phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết 1. Khái quát về câu đố dân gian 1. Sơ lược về một số biện pháp tu từ 1. Khái quát lý thuyết ngữ dụng học 1.
Kết luận chương Chƣơng 2: Câu đố dân gian ngƣời Việt nhìn từ bình diện hình thức 2. Câu đố xét theo thể loại văn bản 2. Câu đố xét theo lý thuyết cấu trúc hội thoại 2. Câu đố xét theo lý thuyết lập luận 2.
Kết luận chương Chƣơng 3: Một số căn cứ và phƣơng thức xây dựng câu đố dân gian ngƣời Việt 3.Căn cứ xây dựng câu đố 3. Căn cứ vào tri thức ngôn ngữ 3. Căn cứ vào các tri thức nền khác 3. Phương thức xây dựng câu đố 3.
Phương thức đánh lạc hướng chiếu vật 3. Phương thức thay thế - bổ sung 3. Kết luận chương Kết luận Tài liệu tham khảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hình thức, những căn cứ cũng như phương thức xây dựng câu đố, luận văn sẽ trình bày khái quát về câu đố dân gian và sơ lược về một số biện pháp tu từ, lý thuyết ngữ dụng học có liên quan. KHÁI QUÁT VỀ CÂU ĐỐ DÂN GIAN 1.
Khái niệm câu đố 1. Khái niệm Câu đố là một thể loại của văn học dân gian. Thuật ngữ câu đố được dùng từ lâu và phổ biến trong dân gian với hàm nghĩa chỉ một loại hình sáng tác của folklore. Câu đố không đơn thuần là một hiện tượng ngôn ngữ, nó cũng không phải là một tác phẩm (tác phẩm hiểu theo nghĩa là một cấu trúc nghệ thuật) có các yếu tố được sắp xếp theo bố cục, diễn biến nhất định nhằm thể hiện một tư tưởng chủ đề nào đó, nhưng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng.
Từ xưa, Aristôt đã xếp câu đố vào lĩnh vực“sự bắt chước có tính nghệ thuật”(dẫn theo [44,244]). Do vậy Aristôt đã định nghĩa:“Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay” và coi cái hay đặc biệt của câu đố ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố đồng thời kết hợp với cả cái hoàn toàn không thể có được”(dẫn theo [44,244]). Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, quan niệm về câu đố của họ cũng không đi chệch hướng nghiên cứu của các bậc tiền bối. Theo tác giả Vũ Ngọc Phan:“Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn hiểu một nẻo)” [44,257].
Quan niệm này nhấn mạnh cách nói chệch trong câu đố. Tác giả Triều Nguyên trong công trình nghiên cứu Câu đố người Việt của mình lại chú ý đến mặt cấu tạo của câu đố. Ông đưa ra một cách nhìn về câu đố như sau:“Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận; lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết, từng hay” [40,28]. Nguyễn Văn Trung [61], quan niệm về câu đố của tác giả dựa trên hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội.
Về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải. Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức: tên vật có những hình dáng, đặc điểm, công dụng này hay tên vật giống như vật được nói ra là gì? Như vậy câu đố là một định nghĩa, xét theo nội dung dựa trên khái niệm căn bản: tương tự .Về mặt xã hội, câu đố là một cuộc chơi sử dụng đồ chơi là hình ảnh, từ và ý nghĩa, là một chơi chữ nhằm mục đích giải trí tinh thần vui vẻ. Thay vì chỉ đưa ra một định nghĩa, ông đề nghị đưa ra nhiều định nghĩa tuỳ theo phương diện nhìn vấn đề hoặc nhiều chiều cạnh của đối tượng. Bởi theo ông những định nghĩa này không nhằm bày tỏ thực chất hay yếu tính của câu đố vì bản chất hay yếu tính của câu đố là siêu hình không ai kiểm nghiệm được.
Cái có thể kiểm nghiệm và quan sát được ở đây chỉ có thể là những sự mô tả yếu tố cấu tạo của câu đố mà thôi. Đặc điểm lời đố và vật đố Có thể thấy các định nghĩa trên đều chú ý tới đặc điểm cấu tạo của câu đố. Câu đố bao gồm hai bộ phận: lời đố và vật đố. a) Lời đố Lời đố nêu đặc điểm, thuộc tính hay phẩm chất của vật đố một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Có lời đố miêu tả hình dáng của sự vật, ví dụ: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn (1) Trong nhà có bà hai đầu. (Cái võng)[66,537] Có lời đố nêu nguồn gốc của sự vật: (2) Thân em xưa ở bụi tre Mùa đông xếp lại, mùa hè mở ra.(Cái quạt)[66,529] Có lời đố nêu chức năng của vật: (3) Đem thân che nắng cho người Chẳng thương thì chớ lại cười không khôn. ( Cái giại) [50,314] Cũng có khi một vật đố có nhiều lời đố. Mỗi lời đố lại chú ý tới đặc điểm khác nhau của sự vật.
b) Vật đố Vật đố - đối tượng phản ánh của câu đố, là các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan và phần lớn là ở nông thôn có liên quan mật thiết đến công việc lao động, sinh hoạt hàng ngày của người lao động. Chẳng hạn như cái cày, bừa, hái, liềm, trâu, bò, cối xay lúa, cái vó, cái nơm v.v…Trong thiên nhiên, đối tượng quan sát của câu đố là các thực thể tự nhiên như trăng, sao, mặt trời; các loài động thực vật…Tất cả đối tượng quan sát của câu đố đều có tính chất hiện thực – cụ thể, trực quan. Đi theo cách tiếp cận câu đố của tác giả Nguyễn Văn Trung, chúng tôi muốn làm rõ hơn nữa đặc điểm của lời đố và tính chất xã hội của câu đố. Phân loại câu đố Các nhà khảo cứu thường phân biệt ba loại câu đố: câu đố bằng hình vẽ, câu đố bằng hành động và câu đố bằng lời (tiếng, chữ).
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung cho thấy ở Việt Nam ít thấy hai loại câu đố bằng hành động và câu đố bằng hình vẽ mà chỉ thịnh hành câu đố bằng lời. Về phân loại câu đố, dựa vào kỹ thuật tạo câu đố chúng tôi nhấn mạnh đến hai loại câu đố: Câu đố trực tiếp và câu đố gián tiếp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Câu đố trực tiếp Câu đố trực tiếp là loại câu đố không sử dụng đến kỹ thuật so sánh, ẩn dụ hay bất cứ một phương tiện tu từ nào khác ngoài việc miêu tả sự vật đúng với những gì nó có.
Chẳng hạn đố về cây rau sam: (4) Lá xanh cành đỏ hoa vàng Hạt đen, rễ trắng, đố chàng biết chi? (Rau sam)[66,176] Hay đố về trạng thái đang hoạt động của con chuồn chuồn: (5) Con gì cánh mỏng đuôi dài Lúc bay, lúc đậu cánh thời đều giương. (Con chuồn chuồn)[66,275] câu đố đều dùng phương pháp miêu tả trực tiếp. b) Câu đố gián tiếp Câu đố gián tiếp là câu đố sử dụng các kỹ thuật ví, so sánh, ẩn dụ trong việc xây dựng hình ảnh đố của vật đố. Ví dụ so sánh dùng các từ: như, là, bằng, vừa bằng… (6) Vừa bằng lá tre, le the mặt nước.(Con đỉa)[66, 261] So sánh không dùng từ: như, là, bằng…Đây là những ẩn dụ: (7) Bốn cột đình rinh tảng đá Hai ông tướng tá đi trước vung gươm Hai bà đi sau quạt hầu lia lịa.
(Con trâu)[66,247] Có khi vừa ẩn dụ, vừa so sánh: (8) Mình đen như quạ, da trắng như bông Giữa thắt cổ bồng, đít đeo nồi nước. Hoàn cảnh sử dụng câu đố Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Tác giả Nguyễn Văn Trung nhấn mạnh ba nhân tố của hoàn cảnh sử dụng câu đố là: con người, không gian và thời gian sử dụng. Dựa vào 3 nhân tố này, người ta chia hoàn cảnh sử dụng câu đố thành hai loại: loại không có tổ chức và loại có tổ chức. Loại không có tổ chức muốn nói tới số lượng người tham gia ít nhất phải có hai người, nhiều từ năm sáu người trở nên, không nhất định số người.
Tuỳ lúc, tuỳ nơi, lúc đi làm việc ngoài đồng, lúc học chữ, lúc nhàn rỗi, ban ngày hay ban chiều, khi ngồi năm tụm ba trên phản, ngoài hè, bất cứ lúc nào người ta cũng có thể đố nhau. Hoàn cảnh sử dụng thông thường phổ biến hơn cả là buổi tối sau khi ăn cơm, nhất là lúc trời rét mưa phùn, người trong nhà quây quần bên nhau nghe kể chuyện cổ tích hay ra đố hoặc tự sáng tạo ra những câu đố mới. Loại có tổ chức là loại đòi hỏi một số điều kiện về tổ chức và vật chất, khi đó câu đố được sử dụng như một sự trình diễn. Chẳng hạn câu đố trong tuồng, chèo chỉ được nói ra khi diễn kịch trên sân khấu, do những vật đóng vai thằng hề diễn.
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, câu đố còn được sử dụng có tổ chức như thai chợ. Thai chợ có nghĩa là những người hành nghề ra câu đố chọn một chỗ ngồi, nơi thường có đông người qua lại như chợ, bến đò, quán ăn, họ bày ra một số trò chơi, sau đó anh ta bắt đầu rao câu đố bằng cách hát lên để lôi cuốn người đến xem và tham dự cuộc chơi. Ở một số tỉnh miền Nam, vùng đồng bằng sông Cửu Long có tục tổ chức thai đố nhân ngày lễ cúng thần của làng vào rằm tháng riêng âm lịch mỗi năm. Trong hai loại hoàn cảnh trên, loại hoàn cảnh không có tính tổ chức là thường gặp nhất trong cuộc sống sinh hoạt của người lao động.
SƠ LƢỢC VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Biện pháp tu từ nhân hoá 1. Khái niệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.