phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. 5 z Phần nội dung gồm ba chƣơng. Cụ thể: -Chƣơng 1. Cở sở khoa học về việc dạy học biện pháp tu từ từ vựng cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp -Chƣơng 2.
Tổ chức dạy học biện pháp tu từ từ vựng cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp -Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1. Quan điểm giao tiếp trong dạy học ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng 1. Thuật ngữ quan điểm giao tiếp Trong dạy học, thuật ngữ “quan điểm giao tiếp” đƣợc sử dụng khá rộng rãi.
Mặc dù, dạy học tiếng Việt theo quan điểm có nhiều dạng nhƣng đều nhằm mục đích giúp ngƣời học hình thành kĩ năng, kĩ xảo sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống khác nhau của hoạt động giao tiếp. Có thể nói quan điểm giao tiếp khá là mới mẻ trong việc dạy học tiếng Việt hiện đại, đem lại hiệu quả cao hơn cho hoạt động dạy và học tiếng Việt. Ngày nay, dạy và học tiếng Việt không phải chỉ là một hệ thống cấu trúc trên trang sách mà mục tiêu của dạy và học tiếng Việt phải biến nó trở thành một hệ thống hoạt động hành chức, thể hiện đƣợc chức năng làm công cụ hỗ trợ giao tiếp của mình. Dạy học theo quan điểm giao tiếp Dạy học theo quan điểm giao tiếp là một quan điểm mới trong việc dạy Ngữ Văn hiện nay, thể hiện sự xác định chính xác hơn về bản chất của việc dạy và học Ngữ Văn chính là vận dụng vào thực tiễn đời sống giao tiếp hằng ngày.
Dù ta sử dụng bất cứ phƣơng pháp dạy học nào cũng đều xuất phát từ một quan điểm khoa học nhất định để đề ra nguyên tắc, cách thức và qui trình dạy học nhằm cải tiến phƣơng pháp và đạt hiệu quả cao trong dạy học. Quan điểm giao tiếp cũng vậy, quan điểm này ra đời xuất phát từ những cơ sở khoa học sau: Trƣớc hết, quan điểm giao tiếp xuất phát từ chức năng của ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngƣời. Trong cuộc sống, giao 7 z tiếp rất quan trọng, nó không chỉ là nhu cầu tất yếu mà còn là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của mỗi ngƣời và của cả xã hội. Hệ thống tín hiệu ở đây đƣợc hiểu là các điệu bộ, cử chỉ, màu sắc, hình dáng, ngôn ngữ…Những tín hiệu này chính là các phƣơng tiện để hỗ trợ cho giao tiếp.
Nhƣng trong các phƣơng tiện giao tiếp trên, phƣơng tiện giao tiếp bất biến và tiện lợi nhất chính là giao tiếp bằng ngôn ngữ. Tiếp theo, quan điểm giao tiếp xuất phát từ tính đặc thù của ngôn ngữ. Trong hệ thống ngôn ngữ, tất cả các yếu tố ngôn ngữ đều có sẵn và khép kín. Nói cách khác, trong hệ thống ngôn ngữ, giá trị của chúng không thay đổi.
Nhƣng theo quan điểm giao tiếp, tất cả các yếu tố ngôn ngữ luôn luôn là những yếu tố động và biến đổi trong hoạt động hành chức. Chính vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp tức là ta đã biến đổi ngôn ngữ từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động và chỉ có ở trạng thái động thì ngôn ngữ mới có sức sống. Cuối cùng, quan điểm giao tiếp xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu của môn học và thực tiễn dạy học. Mục tiêu, yêu cầu của dạy học tiếng Việt trong nhà trƣờng trung học phổ thông không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức cho học sinh, mà qua đó phải tổ chức cho học sinh hoạt động thực hành, vận dụng những tri thức tiếng Việt đƣợc học vào trong giao tiếp.
Nói cách khác phải dạy cho học sinh có kỹ năng giao tiếp linh hoạt, năng động. Có thể nói rằng chỉ khi sử dụng giao tiếp thì việc dạy và học Ngữ Văn mới trở nên sinh động, thực tế và hấp dẫn ngƣời học hơn. Bởi dạy học bằng giao tiếp không chỉ giúp ngƣời học trở nên năng động, sáng tạo, làm chủ kiến thức, có những kĩ năng cần thiết để thích ứng với cuộc sống hiện đại, mà còn đáp ứng đƣợc yêu cầu đào tạo con ngƣời trong thời đại mới. Có thể nói, dạy học theo quan điểm giao tiếp là một quan điểm hiện đại, tích cực, đáp ứng yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học trong tình trạng hiện nay.
Dạy học theo quan điểm này đã phần nào khắc phục đƣợc những hạn chế của phƣơng pháp dạy học truyền thống, cụ thể đó là đã phần nào khắc 8 z phục đƣợc lối truyền thụ một chiều diễn ra một cách đơn lẻ, tẻ nhạt trong mỗi giờ học văn. Với phƣơng pháp dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp nhƣ vậy, học sinh sẽ không còn là những khách thể tiếp nhận kiến thức một cách bị động và giáo viên cũng không còn phải độc thoại một mình mà không tìm đƣợc sự hƣởng ứng của học trò. Dạy học theo quan điểm giao tiếp đã phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tinh thần hợp tác của học sinh. Từ đó, biến mỗi giờ học trở thành những cuộc đối thoại tích cực nhiều chiều giữa học sinh- giáo viên,giáo viên- học sinh, học sinh- kiến thức, kĩ năng.
Trong quá trình học tập, học sinh là những chủ thể tích cực, sáng tạo, làm chủ kiến thức, kĩ năng. Đặc biệt, ứng dụng phƣơng pháp dạy học này giúp cho học sinh phát triển năng lực giao tiếp toàn diện, học sinh có thể vận dụng những tri thức đã học linh hoạt vào trong các cuộc giao tiếp hằng ngày. Từ phƣơng pháp đổi mới dạy học theo hƣớng giao tiếp đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt các phƣơng pháp mới nhằm đem lại hiệu quả và chất lƣợng trong dạy học nhƣ : phƣơng pháp giao tiếp, phƣơng pháp tình huống, phƣơng pháp nêu và giải quyết vấn đề, phƣơng pháp đàm thoại, phƣơng pháp hợp tác trong nhóm nhỏ… và hàng loạt các hình thức dạy học nhƣ: thảo luận nhóm, đóng vai, seminar… Những phƣơng pháp và hình thức dạy học mới này chính là sự cụ thể hóa của quan điểm giao tiếp, tạo hứng thú và niềm đam mê trong học sinh đối với môn Ngữ Văn và đƣa môn học gần hơn với thực tiễn đời sống. Nhƣ vậy, để đem lại những giờ dạy và học tiếng Việt có giá trị và thu hút niềm say mê của ngƣời học, đòi hỏi giáo viên phải tăng cƣờng sử dụng các phƣơng pháp dạy học và hình thức dạy học hiện đại, nhƣng phải hợp lí và phù hợp với nội dung truyền đạt.
Làm đƣợc vậy mới phát huy đƣợc tính tích cực, sáng tạo trong học tập của học sinh, đặc biệt trong việc rèn kĩ năng giao tiếp cho các em. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp Giao tiếp chính là nguyên tắc chung cho mọi hoạt động của con ngƣời nói chung và của hoạt động dạy học nói riêng. Vũ Dũng [1] đã khẳng định: “Nguyên tắc giao tiếp là những yêu cầu mang tính chỉ đạo, định hƣớng cho hành vi, ứng xử, thái dộ trong quá trình trao đổi, tiếp xúc của các chủ thể giao tiếp nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình giao tiếp đó”. Đồng quan điểm, Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh trong công trình nghiên cứu Giao tiếp sƣ phạm [2] cũng đã khẳng định: “Nguyên tắc giao tiếp là hệ thống những quan điểm chỉ đạo, định hƣớng thái độ và hành vi ứng xử, đồng thời chỉ đạo việc lựa chọn các phƣơng pháp, phƣơng tiện giao tiếp của cá nhân”.
Với mục tiêu dạy học để hình thành và nâng cao ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp, sách giáo khoa Ngữ Văn lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hƣớng cơ bản. Hoạt động giao tiếp vừa là phƣơng tiện vừa là mục đích của việc dạy học tiếng Việt hiện nay. Để thực hiện tốt nguyên tắc hƣớng vào hoạt động giao tiếp này đòi hỏi ngƣời dạy phải đặt các đơn vị ngôn ngữ vào hệ thống hành chức của nó. Mục đích của việc học tiếng Việt, học sinh phải biết sử dụng thành thạo tiếng Việt vào tƣ duy và giao tiếp hằng ngày.
Để đạt đƣợc yêu cầu đó, trong quá trình dạy học, giáo viên cần tạo đƣợc hoàn cảnh, tình huống giao tiếp đa dạng để kích thích động cơ giao tiếp cho học sinh.Phương pháp dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Theo xu hƣớng cải cách giáo dục của thế giới, ở nƣớc ta, cũng đề ra trọng tâm giáo dục ở bậc trung học là phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và đặc biệt trong việc rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh sao cho mô phỏng phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp ngoài cuộc sống. Để đáp ứng đƣợc mục tiêu dạy học này, giáo viên đã và đang tích cực sử dụng phƣơng pháp giao tiếp và phƣơng pháp tình huống vào trong mỗi bài dạy. 10 z Phƣơng pháp giao tiếp là phƣơng pháp thể hiện ở việc giao tiếp sắp xếp các tài liệu học tập sao cho các tài liệu ngôn ngữ ấy vừa phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ của chúng trong hệ thống ngôn ngữ, vừa phản ánh đặc điểm chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp. Đây là phƣơng pháp giáo viên hƣớng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đƣợc học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp và là phƣơng pháp chủ yếu để phát triển khả năng sử dụng lời nói trong giao tiếp của học sinh tốt hơn.
Trong dạy học, phƣơng pháp này đƣợc đánh giá là một trong những phƣơng pháp tối ƣu, giúp các em rèn luyện đƣợc nhiều kĩ năng nhất. Nó không chỉ góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, gần với thực tế giao tiếp; không chỉ làm cho quá trình tiếp nhận ngôn ngữ trở nên hấp dẫn hơn, mà còn giúp cho học sinh thực hành giao tiếp và nắm bắt đƣợc bản chất tác dụng thực tiễn của các biện pháp tu từ một cách dễ dàng hơn. Phƣơng pháp tạo ra tình huống giao tiếp có thành công đƣợc là nhờ vào việc giáo viên biết cách tổ chức bài học dƣới dạng các tình huống. Trên cơ sở đó, giáo viên tổ chức hƣớng dẫn, học sinh sẽ tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm có sẵn của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới.