Chương 1: Một số cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài Chương 2: Một số biện pháp tu từ ngữ âm trong thơ Xuân Quỳnh Chương 3: Một số biện pháp tu từ cú pháp trong thơ Xuân Quỳnh. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về biện pháp tu từ 1. Biện pháp tu từ 1.
Khái niệm Biện pháp tu từ (phép tu từ) theo cách định nghĩa của Đinh Trọng Lạc như sau: “Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ”. Theo tác giả Cù Đình Tú: “Biện pháp tu từ thường được hiểu một cách hạn hẹp, chỉ có trong phần Phong cách học ngữ nghĩa, bị đồng nhất với phép mĩ từ vốn được quan niệm là những cách thức, những hình thức diễn đạt bóng bảy, gợi cảm, có sức hấp dẫn, lôi cuốn trong khi trình bày.33] Giáo trình Tiếng Việt 3 của Lê A định nghĩa: “Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ (tức là tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ).” [1, tr205] Khi sử dụng ngôn ngữ biết rằng ngoài việc sử dụng phương tiện ngôn ngữ thông thường còn có cách sử dụng ngôn ngữ một cách đặc biệt đó là gắn ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định để đạt được mục đích diễn đạt. Những đơn vị được đánh dấu về tu từ học trong cùng một lớp tu từ học thuộc một hay nhiều cấp độ ngôn ngữ, kết hợp một cách hài hòa với nhau tạo nên một hình tượng có sức biểu hiện mạnh mẽ. Sử dụng biện pháp tu từ tạo nên những câu thơ trau chuốt, đẹp đẽ hơn, đồng thời thể hiện được tài năng điêu luyện, sự sáng tạo và trí tuệ của người cầm bút.
Dựa vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp sử dụng thì Đinh Trọng Lạc (2002) chia ra nhiều biện pháp tu từ khác nhau như: Biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ ngữ âm, biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu từ văn bản. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi theo quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc. Phương tiện tu từ Theo Đinh Trọng Lạc, phương tiện tu từ được hiểu như sau: “Phương tiện tu 9 từ là những phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ” [20, tr 5]. Những phương tiện này được đánh dấu về mặt tu từ.
Con người sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện và luôn phải ý thức được rằng trong suy nghĩ luôn có hai loại ngôn ngữ đó là phương tiện trung hòa và phương tiện ngôn ngữ tu từ (phương tiện tu từ). Ở các phương tiện tu từ ngôn ngữ có các cấp độ khác nhau đánh dấu về mặt tu từ và chúng ta có thể chia thành: Phương tiện tu từ văn bản, phương tiện tu từ ngữ âm, phương tiện tu từ cú pháp, phương tiện tu từ từ vựng, phương tiện tu từ ngữ nghĩa. Phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện tu từ Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có sự khác biệt nhau rõ rệt. Có thể đối chiếu hai biện pháp tu từ và phương tiện tu từ qua bảng sau: Bảng 1.
Phân biệt biện pháp tu từ và phương tiện tu từ Nội dung Biện pháp tu từ Phương tiện tu từ 1. Về khái niệm - Là cách kết hợp ngôn ngữ - Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài đặc biệt trong một hoàn ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – cảnh cụ thể, nhằm mục logic) chúng còn có ý nghĩa bổ đích tu từ nhất định. sung, còn có màu sắc tu từ. - Là những cách phối hợp - Là những yếu tố ngôn ngữ sử dụng các đơn vị lời nói thuộc các cấp độ khác nhau, trong giới hạn của một đơn được đánh dấu về tu từ học trong vị thuộc bậc cao hơn.
giới hạn của một cấp độ nào đó trong ngôn ngữ. Về ý nghĩa - Ý nghĩa tu từ học của biện - Ý nghĩa tu từ học của phương pháp tu từ bị quy định bởi tiện tu từ bị quy định bởi những những quan hệ đoạn giữa quan hệ hệ hình của các yếu tố các đơn vị của một bậc cùng bậc và được củng cố ở ngay hoặc của các bậc khác phương tiện đó. nhau, được nảy sinh ra trong ngữ cảnh nào đó. Về hoàn cảnh - Đối lập với biện pháp sử - Đối lập tu từ học với phương sử dụng dụng ngôn ngữ thông tiện tương liên có tính chất trung thường trong mọi hoàn hoà của hệ thống ngôn ngữ.
cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lí trí. Về quan hệ với - Mang tính chủ quan thuộc - Mang tính khách quan, độc lập người sử dụng về lựa chọn kĩ năng diễn chủ quan với người sử dụng. đạt của người viết. Về giới hạn - Biện pháp tu từ mang tính - Các phương tiện tu từ mang vô hạn.
tính hữu hạn trong hệ thống ngôn ngữ. Qua sự so sánh ở bảng trên, chúng ta thấy rằng giữa các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có những sự khác biệt rõ rệt nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng các biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa thành phương tiện tu từ. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể được cùng để xây dựng nên những phương tiện tu từ rất khác nhau.
Và ngược lại những phương tiện tu từ rất khác nhau có thể tham gia vào việc xây dựng một biện pháp tu từ duy nhất. Khi nhận biết, phân loại hay phân tích người đọc cần đặt ngôn ngữ vào tính hệ thống để tạo nên tính nhất quán và góp phần xác định việc miêu tả, phân tích đánh giá các phương tiện tu từ cũng như biện pháp tu từ để đạt độ chính xác và hiệu quả cao. Biện pháp tu từ ngữ âm 1. Khái niệm biện pháp tu từ ngữ âm Theo Đinh Trọng Lạc (2002), biện pháp tu từ ngữ âm “là những cách phối hợp sử dụng khéo léo các âm thanh, đem đến cho phát ngôn (thông thường hơn cả là văn bản thơ) một cơ cấu âm thanh nhất định, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm- cảm xúc nhất định” [20, tr.
Trong thể loại thơ ca, ngữ âm đóng vai trò đặc biệt. Sử dụng một cách sáng tạo về ngữ âm trong thơ là tạo ra âm hưởng, nhạc điệu, giọng điệu khác biệt so với ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn xuôi. Việc làm khác, làm mới âm điệu thơ để mang đến một giá trị, thể hiện một mĩ cảm riêng là ý thức thường trực ở mỗi thi nhân. Các biện pháp tu từ ngữ âm thông dụng a.
Biện pháp hài thanh Theo Đinh Trọng Lạc, hài thanh là “biện pháp tu từ dùng sự lựa chọn và kết hợp các âm thanh trong một tác phẩm văn học, sao cho hài hòa để có thể gợi lên một 11 trạng thái, một cảm xúc tương ứng với cái được biểu đạt. Đó là hình thức tổng hợp các yếu tố ngữ âm có thể có cho một mục đích biểu đạt nhất định” [20, tr. Biện pháp hài thanh chủ yếu phát huy tác dụng trong những tác phẩm thơ bởi thơ ca tiếng Việt luôn chú ý đến tính nhạc, có thể xem đây là một trong những tiêu chí quan trọng để góp phần làm nên một bài thơ hay, nhất là những bài thơ được quy định bởi tính chất niêm luật chặt chẽ về cả vần và điệu. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu biện pháp hài thanh trên bình diện sự phối hợp giữa thanh bằng và thanh trắc để bạn đọc có thể thấy được sự kết hợp linh hoạt giữa các thanh, từ đó tạo ra giá trị biểu đạt cho một tác phẩm nghệ thuật.
Ví dụ: (1) Những con chim cu rúc (T) Về kêu bên mé đồi (B) Mùa xuân trong cỏ chỉ (T) Kéo mầm trong nắng soi (B) (Những tiếng chim xuân - Hữu Thỉnh) Bốn câu thơ trên có sự phân bố thanh điệu rất cân đối: T-B-T-B. Chính sự phân bố đan xen và đều đặn về thanh đã mang lại cho câu thơ vẻ đẹp hài hòa, cân đối về âm sắc. (2) Đầu trọc lóc bình vôi T B Nhảy tót lên chùa ngồi T B I a kính một bộ B T Lóc cóc mõ ba hồi T B (Vịnh sư - Nguyễn Khuyến) Qua ví dụ (2), bằng cách sử dụng linh hoạt vị trí B-T ở các tiếng 2-4, Nguyễn Khuyến tạo nên sự phá cách mà vẫn giữ được nét hài hòa của âm thanh. Biện pháp điệp âm Theo Phong cách học Tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc (2002), “điệp là biện pháp tu từ, trong đó, người viết có ý thức sử dụng lặp lại các phương tiện ngôn ngữ 12 (ngữ âm, từ ngữ, câu) nhằm thực hiện một mục đích tu từ - nghĩa là nhằm diễn đạt sâu sắc, sinh động và độc đáo một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định” [20, tr.
Phép điệp được thường được phân chia thành: điệp ngữ âm, điệp từ ngữ và điệp cú pháp (lặp cú pháp). Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu về tu từ ngữ âm, chúng tôi sẽ tập trung xem xét phép điệp ngữ âm. Theo Đinh Trọng Lạc:“Điệp âm là biện pháp tu từ lặp lại một hay nhiều yếu tố ngữ âm tạo âm tiết, nhằm tăng cường sức gợi tả và giá trị biểu cảm cho nhà thơ văn” [20, tr. Có thể hiểu điệp ngữ âm là một biện pháp tu từ, trong đó người viết có ý thức sử dụng các yếu tố âm thanh ngôn ngữ theo một quy luật nào đó nhằm mục đích tu từ.
Một số kiểu điệp ngữ âm trong tiếng Việt phải kể đến như: - Điệp phụ âm đầu “Điệp phụ âm đầu là một trong các biện pháp tu từ ngữ âm, trong đó, người nói sử dụng các tiếng có phụ âm đầu giống nhau nhằm tạo âm hưởng và giá trị biểu đạt cho lời” [20, tr. Phép điệp nối tiếp phụ âm đầu tạo thành một chùm nét khu biệt về phương thức cấu âm, đặc điểm âm học, tạo nên những điểm nhấn hội tụ ngữ nghĩa.