Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Lộc, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Công trình thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 62.40. Luận án nghiên cứu câu có ý nghĩa nhân quả (gọi tắt là câu nhân quả) trong tiếng Việt hiện đại theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng kết hợp phân tích cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa miêu tả.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của khuynh hướng ngữ pháp chức năng, trong đó lý thuyết ba bình diện (kết học, nghĩa học, dụng học) được vận dụng để soi sáng các hiện tượng ngôn ngữ, đặc biệt ở cấp độ câu. Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ thể hiện đồng thời cả ba bình diện. Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết này vào khảo sát các kiểu câu cụ thể trong tiếng Việt, đặc biệt là câu có ý nghĩa nhân quả, vẫn chưa được chú ý đầy đủ. Câu nhân quả có đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa phức tạp, xuất hiện với tần số cao trong các thể loại văn bản. Việc nghiên cứu kiểu câu này trên bình diện cú pháp và nghĩa biểu hiện phản ánh sự vận động cùng kết quả của hoạt động tư duy con người (lập luận theo quan hệ nhân quả) thông qua các phương tiện ngôn ngữ, chỉ ra nét đặc thù trong cách biểu hiện quan hệ nhân quả của tiếng Việt, làm rõ mối tương quan giữa hình thức và nội dung, đồng thời đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm:

  • Khái niệm và ranh giới phân định câu nhân quả trong tiếng Việt chưa được thống nhất.
  • Phạm vi các kiểu câu nhân quả và đặc điểm tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả chưa được quan tâm và miêu tả thấu đáo.
  • Tính chất mối quan hệ cú pháp giữa các thành tố trong câu nhân quả biểu hiện bằng quan hệ từ và đặc điểm cú pháp của câu nhân quả biểu hiện bằng động từ gây khiến còn tồn tại nhiều quan điểm khác biệt.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hiện đại, trọng tâm là lý thuyết về bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu cùng quan niệm về tổ chức cú pháp, ngữ nghĩa câu nhân quả của các tác giả trong và ngoài nước; nghiên cứu làm rõ đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của câu nhân quả trong tiếng Việt, đóng góp vào việc nâng cao chất lượng dạy học và nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt.

Luận án đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, được đánh số theo văn bản:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản trong lý thuyết ba bình diện của câu (kết học, nghĩa học và dụng học) để làm cơ sở lý luận cho đề tài.
  2. Xác định, làm rõ các khái niệm cú pháp, ngữ nghĩa cơ bản liên quan đến việc nghiên cứu câu nhân quả về cú pháp và nghĩa biểu hiện.
  3. Phân tích, miêu tả đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu nhân quả trong tiếng Việt.

Đối tượng nghiên cứu là câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt hiện đại.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hai kiểu câu nhân quả trong tiếng Việt hiện đại: câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ và câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng động từ gây khiến (làm, khiến), khảo sát chuyên sâu trên hai bình diện: bình diện cú pháp và bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện). Phạm vi ngữ liệu được khảo sát từ các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân định thành hai mảng: tình hình nghiên cứu trên thế giới và tình hình nghiên cứu tại Việt Nam.

Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về quan hệ và cấu trúc nhân quả bao gồm:

  • L. Altenberg (1984) với công trình Causal linking in spoken and written English, xác định gần 100 liên kết mã hóa quan hệ nhân quả giữa hai mệnh đề, phân loại kết từ thành bốn nhóm: kết từ trạng ngữ (so, hence, therefore), kết từ giới từ (because of, on account of), kết từ (because, as, since), và kết từ hợp nhất mệnh đề (that’s why, the result was).
  • George Lakoff (1987) trong Women, Fire, and Dangerous Things, mô tả quan hệ nhân quả nguyên mẫu qua cụm 10 tính chất tác động giữa tác nhân và khách thể: có tác nhân thực hiện hành động; có khách thể chịu sự biến đổi trạng thái; hai tính chất tạo nên sự kiện đơn trùng hợp không gian và thời gian; hành động của tác nhân đi trước biến đổi của khách thể; tác nhân là nguồn năng lượng truyền sang khách thể; tác nhân và khách thể đều xác định duy nhất; tác nhân là con người; tác nhân chủ ý và tự kiểm soát hành động; tác nhân chịu trách nhiệm chính; tác nhân dùng thân thể hoặc công cụ; tác nhân nhận biết sự biến đổi ở khách thể.
  • Masayoshi Shibatani (1976), phân tích ý niệm because theo cấu trúc tương tác và phủ định: "nếu sự kiện X không xảy ra thì sự kiện Y cũng không xảy ra".
  • Leonard Talmy (2003) trong Toward a Cognitive Semantics, phân chia 9 kiểu quan hệ gây khiến theo mô hình từ vựng hóa kết hợp với gốc động từ (broke, walk, sent): tình huống độc lập - không gây khiến; gây khiến kết quả - tình huống; gây khiến nguyên nhân - tình huống; gây khiến công cụ; tác thể gây khiến - không chủ ý; tác thể gây khiến có chủ ý; tình huống bị thể - không gây khiến; gây khiến tự tác thể; gây khiến tác động quy nạp.
  • R. Jackendoff (1995) trong The English resultative as a family of constructions, phân tích vị từ nguyên nhân chi phối quan hệ cú pháp của chủ ngữ và tân ngữ trong cấu trúc kết quả.
  • V.G. Silniskij (1969) trong công trình Loại hình học các cấu trúc nhân quả (Типология каузативных конструкций), phân tích các hằng tố (константы) tổ chức nghĩa biểu hiện của câu, phân chia sự tình thành sự tình đơn giản (tối thiểu 2 hằng tố) và sự tình phức tạp (tối thiểu 2 sự tình đơn giản), thiết lập 15 kiểu cấu trúc sự tình nhân quả.

Tại Việt Nam, các tác giả tiếp cận vấn đề câu nhân quả, câu điều kiện - hệ quả và động từ gây khiến từ nhiều góc độ:

  • Hoàng Trọng Phiến (1980) xếp câu nhân quả vào câu ghép qua lại hai chiều, khảo sát 81 mô hình câu nhân quả thuộc 19 tiểu nhóm theo tiêu chí hình thức; miêu tả trạng ngữ chỉ nguyên nhân có tín hiệu vì, do, bởi, tại; xếp câu chứa động từ khiến vào kiểu câu móc xích trung gian giữa câu đơn và câu ghép (mô hình D1Đ1D2Đ2).
  • Tập thể tác giả Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983) trong Ngữ pháp tiếng Việt, phân định câu ghép thành câu ghép song song và câu ghép qua lại dựa trên tính độc lập ngữ pháp của nòng cốt đơn.
  • Cao Xuân Hạo (1991) trong Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng, nhận định thành tố nguyên nhân không thể đảm nhận vai trò khung đề vì không đóng vai trò điều kiện hóa phần thuyết.
  • Hồ Lê (1992) xếp câu nhân quả vào hệ thống câu điều kiện - hệ quả, cụ thể là dạng câu có điều kiện thực thuận với hệ quả (vì).
  • Diệp Quang Ban (1996, 2009) xem câu nhân quả có vị ngữ là động từ gây khiến (làm cho, khiến cho) là "câu chứa chủ ngữ nguyên nhân"; phân chia câu nhân quả thành 3 dạng cấu tạo: câu đơn, câu phức, câu ghép.
  • Nguyễn Văn Lộc (2004) trong Động từ ngữ pháp trong tiếng Việt, xác lập 3 mô hình kết trị của nhóm động từ hoạt động - quan hệ nguyên nhân (làm, khiến): N - làm/khiến - SP; V - làm/khiến - SP; SP - làm/khiến - SP.
  • Nguyễn Văn Hiệp (2009) trong Cú pháp tiếng Việt, xếp câu chứa làm, khiến vào loại câu phức có chủ ngữ là cụm C-V có khả năng danh hóa.
  • Nguyễn Thị Quy (1995) phân biệt cấu trúc nhân quả với cấu trúc cầu khiến dựa trên đặc trưng hành thể và bản chất của vị từ.
  • Lê Biên (1996) xác lập mô hình động từ gây khiến gồm hai bổ ngữ: A - V - A1 - A2.
  • Nguyễn Khánh Hà (2008) phân tích quan hệ nhân quả giả định trong câu điều kiện.
  • Nguyễn Thị Kim Quyên (2007) thống kê danh mục 352 vị từ gây khiến tiếng Việt.
  • Nguyễn Thị Thu Hương (2010) đối chiếu cấu trúc gây khiến - kết quả giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Nguyễn Văn Thành (2013) nghiên cứu phương thức biểu hiện quan hệ nhân quả trong văn bản qua các loại tác tố (trong suốt, mờ đục, zero).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung giải quyết các bất đồng lý luận về ranh giới câu nhân quả; làm sáng tỏ bản chất ngữ pháp của hai loại cấu trúc (câu biểu hiện bằng quan hệ từ và câu biểu hiện bằng động từ gây khiến làm, khiến); xác định bản chất mối quan hệ cú pháp giữa thành tố nguyên nhân và thành tố kết quả; miêu tả có hệ thống cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu nhân quả thông qua các hằng tố và các đặc trưng ngữ nghĩa của sự tình nhân quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại, bao gồm lý thuyết ba bình diện tín hiệu học của Charles Morris (kết học, nghĩa học, dụng học) và lý thuyết ngữ pháp chức năng của Simon C. Dik, M.A.K. Halliday, L. Tesnière.

Về bản chất bình diện cú pháp, luận án tiếp thu quan điểm của Nguyễn Văn Lộc, khẳng định bình diện cú pháp mang tính hai mặt (hình thức cú pháp và ý nghĩa cú pháp). Nghĩa cú pháp mang tính trừu tượng, phản ánh mối quan hệ giữa các từ/ngữ đoạn trong câu, khác với nghĩa sâu (nghĩa biểu hiện) phản ánh trực tiếp sự vật và hiện tượng thực tế. Luận án phân định hệ thống thành phần câu gồm: thành phần chính (vị ngữ mang kết trị chủ động tuyệt đối), bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ và chú giải ngữ. Về cấu tạo ngữ pháp, luận án phân chia câu thành câu đơn (chỉ có một cụm chủ vị) và câu phức (từ hai cụm chủ vị trở lên, chia tiếp thành câu phức liên hợp và câu phức chính phụ).

Về bình diện ngữ nghĩa, luận án giới hạn việc phân tích ở nghĩa biểu hiện (nghĩa sự tình, nghĩa miêu tả, nghĩa sâu). Luận án tiếp thu mô hình phân loại sự tình của Simon C. Dik dựa trên hai thông số Động và Chủ ý:

Sự tình + Động (Sự kiện) - Động (Tình huống)
+ Chủ ý Hành động Tư thế
- Chủ ý Quá trình Trạng thái

Đồng thời, luận án kế thừa mô hình 15 kiểu cấu trúc sự tình nhân quả của V.G. Silniskij:

Kiểu cấu trúc Chiết đoạn nhân quả bậc 1 Hệ từ Chiết đoạn nhân quả bậc 2 Kiểu cấu trúc Chiết đoạn nhân quả bậc 1 Hệ từ Chiết đoạn nhân quả bậc 2
T1 c Giới từ a T9 x "SiK" c
T2 c Liên từ c T10 x "SiK" a
T3 x Tính từ a T11 x "SiK" H
T4 a Danh từ a T12 a "K" a
T5 x Danh từ a T13 a "K" H
T6 x "SikSj" x T14 x "K" a
T7 x "SikSj" H T15 x "K" H
T8 a "KSj" x

Ghi chú ký hiệu: c: Cấu trúc chủ vị; a: Cấu trúc thuộc ngữ; x: Danh từ (đại từ); H: Cấu trúc gián tiếp.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp miêu tả là phương pháp chủ đạo, được dùng để làm nổi bật đặc điểm cấu trúc cú pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu nhân quả.
  • Các thủ pháp nghiên cứu hỗ trợ bao gồm: thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại, và các thủ pháp biến đổi hình thức (bổ sung, lược bỏ, thay thế yếu tố, cải biến cấu trúc và mô hình hóa).

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát: Ngữ liệu được trích xuất từ các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại với tổng số 2.801 câu nhân quả, được phân bổ thành hai nhóm:

Nhóm ngữ liệu câu nhân quả Số lượng câu
Câu có ý nghĩa nhân quả biểu hiện bằng quan hệ từ 1.151 câu
Câu có ý nghĩa nhân quả biểu hiện bằng động từ gây khiến (làm, khiến) 1.650 câu
Tổng cộng 2.801 câu

Các ký hiệu viết tắt quy ước trong phân tích ngữ liệu gồm: N (danh từ, cụm danh từ), V (vị từ, cụm vị từ), SP (cụm chủ vị), TTNN (thành tố nguyên nhân), TTKQ (thành tố kết quả), QHT (quan hệ từ), QHTNN (quan hệ từ nguyên nhân), QHTKQ (quan hệ từ kết quả), dấu (+) chỉ tính hiện thực và dấu (-) chỉ tính không hiện thực của cấu trúc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 dành trọn dung lượng để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và xác định vị trí học thuật của đề tài:

  • Trình bày tổng quan nghiên cứu câu/cấu trúc nhân quả trên thế giới (L. Altenberg, G. Lakoff, M. Shibatani, L. Talmy, R. Jackendoff, V.G. Silniskij) và tại Việt Nam (Hoàng Trọng Phiến, Ủy ban KHXH Việt Nam, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Quy, Lê Biên, Nguyễn Khánh Hà, Nguyễn Thị Kim Quyên, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Văn Thành).
  • Tổng thuật lý thuyết về các bình diện của câu: phân tích sự phát triển từ ký hiệu học Charles Morris đến ngữ pháp chức năng của Simon C. Dik (mô hình 4 loại sự tình dựa trên 2 thông số Động và Chủ ý) và M.A.K. Halliday (ba bình diện cú: thông điệp, trao đổi, thể hiện). Khảo sát quan điểm của L. Tesnière về khái niệm hạt nhân ngữ pháp - ngữ nghĩa và hiện tượng hạt nhân tách biệt.
  • Luận giải quan điểm của các nhà Việt ngữ học về cấu trúc câu: cấu trúc đề - thuyết của Cao Xuân Hạo và Trần Ngọc Thêm; quan niệm về bản chất hai mặt của bình diện cú pháp (nghĩa cú pháp và hình thức cú pháp) của Nguyễn Văn Lộc.
  • Xác lập quan điểm của luận án: Phân biệt rõ nghĩa cú pháp với nghĩa biểu hiện; xác định hệ thống thành phần câu trên bình diện cú pháp; định hình phạm trù câu nhân quả là kiểu câu biểu hiện mối quan hệ giữa hai sự tình (nguyên nhân và kết quả) có tính liên đới logic và thời gian, được hiện thực hóa qua các phương tiện hình thức nhất định trong tiếng Việt.

Chương 2: Câu có ý nghĩa nhân quả xét trên bình diện cú pháp

Chương 2 miêu tả chi tiết đặc điểm cú pháp của hai kiểu câu nhân quả và so sánh mối quan hệ giữa chúng:

  • Câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ:
    • Khái niệm: Khảo sát các quan hệ từ nguyên nhân (như vì, do, bởi, tại, nhờ...) và quan hệ từ kết quả (như nên, cho nên, thành thử...).
    • Đặc điểm ngữ pháp của thành tố nguyên nhân (TTNN): Phân tích cấu tạo ngữ pháp của TTNN (danh từ, cụm danh từ, vị từ, cụm vị từ, cụm chủ vị SP); thống kê tần suất xuất hiện của các QHTNN; tần suất TTNN có quan hệ từ dẫn nối và không có quan hệ từ dẫn nối; vị trí phân bố của TTNN trong câu (đứng đầu câu, đứng giữa hoặc đứng sau thành tố kết quả).
    • Đặc điểm ngữ pháp của thành tố kết quả (TTKQ): Phân tích cấu tạo cú pháp và thống kê tần suất xuất hiện của các quan hệ từ chỉ kết quả.
    • Tính chất mối quan hệ cú pháp giữa TTNN và TTKQ: Phân tích bản chất quan hệ ngữ pháp giữa hai thành tố; xác định tư cách ngữ pháp của TTNN (khi đóng vai trò trạng ngữ chỉ nguyên nhân trong câu đơn mở rộng hoặc khi cấu thành vế câu phụ trong cấu trúc câu phức chính phụ).
    • Phân loại cấu trúc ngữ pháp: Xếp loại câu nhân quả biểu hiện bằng quan hệ từ vào hệ thống câu đơn và câu phức (câu phức chính phụ).
  • Câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng động từ gây khiến:
    • Khảo sát đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của hai động từ gây khiến trung tâm là làm và khiến (thống kê tần suất xuất hiện tại trang 91 của luận án).
    • Đặc điểm chủ ngữ đi kèm làm, khiến: Chủ ngữ có thể là danh từ/cụm danh từ (N), vị từ/cụm vị từ (V), hoặc kết cấu chủ vị (SP).
    • Đặc điểm bổ ngữ đi kèm làm, khiến: Phân tích cấu trúc bổ ngữ (thường là một cụm C-V / SP hoặc cụm vị từ biểu thị sự tình biến đổi).
  • Mối quan hệ giữa hai kiểu câu nhân quả:
    • Những điểm tương đồng: Đều phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa hai sự tình; đều có sự tương ứng về các vai nghĩa cơ bản.
    • Những điểm khác biệt: Khác biệt về phương thức biểu thị (hư từ cú pháp đối lập với vị từ/động từ ngữ pháp); khác biệt về cấu trúc hình thức cú pháp (cấu trúc liên kết qua lại hoặc chính phụ đối lập với cấu trúc vị từ - bổ ngữ).
    • Khả năng cải biến giữa hai kiểu câu: Phân tích điều kiện ngữ pháp và ngữ nghĩa cho phép chuyển đổi qua lại giữa câu chứa quan hệ từ (vì... nên...) và câu chứa động từ gây khiến (làm, khiến).

Chương 3: Câu có ý nghĩa nhân quả xét trên bình diện nghĩa biểu hiện

Chương 3 đi sâu vào cấu trúc ngữ nghĩa miêu tả (nghĩa sự tình) của câu nhân quả:

  • Các hằng tố tham gia tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả:
    • Hằng tố quan hệ (K): Là nhân tố biểu thị mối liên kết nhân quả giữa các sự tình, có thể được hiện thực hóa bằng quan hệ từ hoặc động từ gây khiến.
    • Hằng tố nguyên nhân: Phản ánh sự tình đóng vai trò phát động, nguồn gốc hoặc điều kiện tạo sinh kết quả.
    • Hằng tố kết quả: Phản ánh sự tình chịu tác động, biến đổi trạng thái hoặc hệ quả nảy sinh từ sự tình nguyên nhân.
  • Các đặc điểm bản chất của sự tình nhân quả trong tiếng Việt:
    • Tính phức tạp của sự tình nhân quả: Bản chất sự tình nhân quả luôn cấu thành từ tối thiểu hai sự tình đơn giản (sự tình nguyên nhân và sự tình kết quả).
    • Mối quan hệ giữa các chủ thể (ri, rj): Phân tích tương quan giữa chủ thể của sự tình nguyên nhân (ri) và chủ thể của sự tình kết quả (rj) (đồng nhất chủ thể hoặc khác biệt chủ thể).
    • Tính tác động có hiệu quả của sự tình nguyên nhân và tính bị tác động, tính hệ quả của sự tình kết quả.
    • Tính phù hợp với logic và lẽ thường (khung nhận thức chung) của mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
    • Tính trình tự thời gian: Sự tình nguyên nhân bao giờ cũng xuất hiện trước hoặc đồng thời duy trì hiệu lực cho đến khi sự tình kết quả phát sinh.
    • Tính hiện thực (tính tất yếu) của sự tình nhân quả: Phân tích cấu trúc có dấu (+) chỉ tính hiện thực và dấu (-) chỉ tính không hiện thực.
    • Một số đặc điểm khác của sự tình nguyên nhân trong tổ chức ngữ nghĩa của câu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận của luận án:

  • Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về hai kiểu câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt: câu biểu hiện bằng quan hệ từ và câu biểu hiện bằng động từ gây khiến (làm, khiến) trên cả hai bình diện cú pháp và ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện).
  • Luận án bổ sung và làm sâu sắc thêm lý thuyết về câu nhân quả nói chung và câu nhân quả tiếng Việt nói riêng.
  • Vận dụng và làm rõ quan niệm bình diện cú pháp là bình diện mang tính hai mặt (hình thức và ý nghĩa cú pháp), phân biệt rành mạch nghĩa cú pháp với nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu).
  • Miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc cú pháp của câu nhân quả biểu hiện bằng quan hệ từ và câu nhân quả biểu hiện bằng động từ gây khiến; xác định rõ bản chất mối quan hệ cú pháp giữa thành tố nguyên nhân và thành tố kết quả; làm rõ mô hình kết trị của động từ gây khiến làm, khiến.
  • Miêu tả có hệ thống tổ chức ngữ nghĩa của câu nhân quả thông qua phân tích cấu tạo của các hằng tố (hằng tố quan hệ K, hằng tố nguyên nhân, hằng tố kết quả), mối quan hệ tương tác và các đặc trưng ngữ nghĩa của sự tình nhân quả.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:

  • Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào việc nghiên cứu các kiểu câu trong tiếng Việt hiện đại.
  • Luận án cung cấp căn cứ khoa học cho việc biên soạn các tài liệu, giáo trình giảng dạy ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt, đặc biệt là mảng kiến thức về câu trong trường đại học và phổ thông.
  • Góp phần chuẩn hóa cách nhận diện, phân tích câu nhân quả, khắc phục những lúng túng trong thực tiễn phân tích cú pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án căn cứ theo phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định:

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở hai phương tiện biểu hiện chính là quan hệ từ và hai động từ gây khiến (làm, khiến), chưa bao quát toàn bộ các vị từ gây khiến khác trong tiếng Việt (vốn có số lượng lên tới hơn 300 vị từ theo thống kê của các tác giả đi trước).
  • Nguồn ngữ liệu khảo sát mới chỉ tập trung khai thác trong các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, chưa mở rộng sang các phong cách chức năng ngôn ngữ khác như phong cách khoa học, chính luận hoặc ngôn ngữ hội thoại khẩu ngữ tự nhiên.
  • Luận án chủ yếu tập trung vào bình diện cú pháp và bình diện nghĩa biểu hiện; bình diện ngữ dụng (giao tiếp, cấu trúc thông tin, tiêu điểm, ngữ cảnh sử dụng thực tế) chỉ được giới thiệu khái quát ở phần lý thuyết mà chưa được phân tích thành một chương riêng biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các phương tiện từ vựng biểu hiện quan hệ nhân quả khác, đặc biệt là nhóm động từ gây khiến đa dạng và các cấu trúc tác tố mờ đục hoặc tác tố zero.
  • Triển khai nghiên cứu câu nhân quả trên bình diện ngữ dụng, làm rõ cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc tiêu điểm thông báo và lực ngôn trung của các phát ngôn nhân quả trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
  • Mở rộng khảo sát ngữ liệu trên nhiều phong cách văn bản khác nhau để đánh giá toàn diện tần suất và phương thức hiện thực hóa câu nhân quả trong tiếng Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về tiếp cận câu theo ngữ pháp chức năng và lý thuyết ba bình diện; cung cấp phương pháp luận phân tích cú pháp học và ngữ nghĩa học.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu ngôn ngữ: Cung cấp tư liệu chi tiết về đặc trưng cú pháp của câu có quan hệ từ, mô hình kết trị của động từ gây khiến (làm, khiến), cùng phương pháp phân tích sự tình nhân quả dựa trên các hằng tố ngữ nghĩa.
  • Người biên soạn chương trình và sách giáo khoa ngữ văn, tiếng Việt: Cung cấp các luận cứ ngôn ngữ học chuẩn xác để phân loại câu đơn, câu phức, câu chứa thành phần trạng ngữ nguyên nhân và câu có bổ ngữ phức tạp.

Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm:

  • Mục 1.2: Hệ thống hóa lý thuyết về các bình diện của câu và quan niệm về tính hai mặt của bình diện cú pháp.
  • Mục 2.1 và 2.2: Bản miêu tả cú pháp chi tiết về cấu tạo thành tố nguyên nhân, vị trí thành tố và mô hình kết trị của các động từ gây khiến làm, khiến.
  • Chương 3: Khung phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện qua các hằng tố và 6 đặc tính của sự tình nhân quả.

Câu hỏi thường gặp

Ngữ liệu khảo sát của luận án gồm bao nhiêu trường hợp và được thu thập từ nguồn nào?

Ngữ liệu khảo sát của luận án gồm 2.801 câu nhân quả được thu thập từ các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại. Trong đó, có 1.151 câu nhân quả biểu hiện bằng quan hệ từ và 1.650 câu nhân quả biểu hiện bằng động từ gây khiến (làm, khiến).

Luận án phân định phạm vi câu nhân quả thành những kiểu cơ bản nào?

Luận án tập trung nghiên cứu hai kiểu câu nhân quả cơ bản trong tiếng Việt hiện đại:

  1. Câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng quan hệ từ (như vì, do, bởi, tại... nên, cho nên...).
  2. Câu có ý nghĩa nhân quả được biểu hiện bằng động từ gây khiến (làm, khiến).

Theo luận án, bình diện cú pháp khác với bình diện nghĩa biểu hiện ở những điểm căn bản nào?

Căn cứ vào quan niệm của Nguyễn Văn Lộc mà luận án tiếp thu, hai bình diện này khác nhau ở 4 điểm:

  1. Về tính chất: Nghĩa cú pháp có tính trừu tượng cao, là nghĩa phi vật thể phản ánh quan hệ giữa các từ/ngữ đoạn; nghĩa biểu hiện mang tính vật thể, phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng trong thực tế.
  2. Về chức năng: Nghĩa cú pháp gắn với chức vụ cú pháp của từ; nghĩa biểu hiện gắn với sự miêu tả thực tế và đặc trưng cho các vai nghĩa trong câu.
  3. Về phương tiện biểu thị: Nghĩa cú pháp biểu thị bằng trật tự từ và hư từ cú pháp; nghĩa biểu hiện biểu thị bằng cả hư từ lẫn thực từ hoặc các phương tiện từ vựng - ngữ pháp (như động từ gây khiến).
  4. Về tính chất mối quan hệ: Thành tố mang nghĩa cú pháp phải có quan hệ cú pháp trực tiếp với từ khác; thành tố mang nghĩa biểu hiện có thể không có quan hệ cú pháp trực tiếp.

Động từ gây khiến nào được khảo sát cụ thể trong luận án và có các mô hình kết trị nào?

Luận án khảo sát chuyên sâu hai động từ gây khiến trung tâm là làm và khiến. Kế thừa mô hình của Nguyễn Văn Lộc, nhóm động từ này có 3 mô hình kết trị cú pháp cơ bản:

  1. N - làm/khiến - SP (Ví dụ: Tiếng động mạnh làm cho bé thức giấc).
  2. V - làm/khiến - SP (Ví dụ: Tập thể dục làm cho cơ thể khỏe mạnh).
  3. SP - làm/khiến - SP (Ví dụ: Chàng lại gần khẽ đụng vào vai nàng khiến nàng giật mình quay lại).

Sự tình nhân quả trên bình diện nghĩa biểu hiện có những đặc điểm cơ bản nào?

Sự tình nhân quả được cấu thành từ 3 hằng tố (hằng tố quan hệ K, hằng tố nguyên nhân, hằng tố kết quả) và mang các đặc trưng ngữ nghĩa cơ bản:

  • Tính phức tạp (bao gồm tối thiểu hai sự tình đơn giản).
  • Tương quan giữa các chủ thể (ri, rj).
  • Tính tác động có hiệu quả của nguyên nhân và tính bị tác động của kết quả.
  • Tính phù hợp với logic và lẽ thường.
  • Tính trình tự thời gian (nguyên nhân đi trước hoặc đồng thời duy trì hiệu lực).
  • Tính hiện thực (tất yếu) của sự tình.

Kết luận

Luận án "Câu có ý nghĩa nhân quả trong tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống câu nhân quả trên hai bình diện cú pháp và nghĩa biểu hiện. Dựa trên nguồn ngữ liệu thực chứng gồm 2.801 câu văn học, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc ngữ pháp của các câu nhân quả dùng quan hệ từ và động từ gây khiến làm, khiến, đồng thời mô hình hóa cấu trúc nghĩa sự tình qua hệ thống các hằng tố và vai nghĩa. Công trình đóng góp thiết thực vào việc bổ sung lý luận ngữ pháp chức năng tiếng Việt và cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ngữ pháp câu tiếng Việt.