Tổng quan nghiên cứu
Theo thống kê ngôn ngữ học thế giới, hiện có khoảng 7.000 ngôn ngữ đang cùng tồn tại, nhưng các nhà khoa học dự báo đến cuối thế kỷ 21 con số này có thể suy giảm chỉ còn khoảng 700 ngôn ngữ do tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và đô thị hóa. Tại Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc với 54 thành phần dân tộc anh em và hơn 54 hệ thống tiếng nói khác nhau, tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ quốc gia chiếm 85,7% dân số, tạo nên bức tranh ngôn ngữ đa thành tố hết sức phong phú nhưng cũng đặt các ngôn ngữ thiểu số trước nguy cơ mai một nghiêm trọng.
Tỉnh Thái Nguyên hiện là địa bàn cư trú đông nhất của đồng bào Sán Dìu trên cả nước với 44.134 người, chiếm 3,92% dân số toàn tỉnh và chiếm tới 29,59% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam. Người Sán Dìu đứng thứ 4 trong số các dân tộc tại Thái Nguyên, phân bố chủ yếu ở vùng bán sơn địa thuộc các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên. Trước bối cảnh giao lưu kinh tế và tiếp xúc văn hóa sâu rộng, hiện tượng song ngữ Việt - Sán Dìu ngày càng phát triển nhưng mang tính chất bất bình đẳng, khi thế hệ trẻ có xu hướng rời xa tiếng mẹ đẻ để sử dụng hoàn toàn tiếng phổ thông.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát, phân tích toàn diện bức tranh cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Sán Dìu tại Thái Nguyên từ năm 1960 đến năm 2018. Mục tiêu cụ thể nhằm xác định đặc điểm định lượng, định chất và định giá của tiếng Sán Dìu trong các môi trường giao tiếp gia đình, cộng đồng, hành chính và giáo dục; đồng thời đánh giá năng lực ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ của các nhóm tuổi khác nhau. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng cho công tác hoạch định chính sách dân tộc và xây dựng các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết và vốn văn hóa cổ truyền của đồng bào Sán Dìu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học xã hội hiện đại để tiếp cận và giải quyết đối tượng nghiên cứu:
Thứ nhất là lý thuyết về cảnh huống ngôn ngữ của các tác giả V. Mikhal’chenko, Nguyễn Văn Khang và Nguyễn Văn Lợi. Cảnh huống ngôn ngữ được xác định là toàn bộ các hình thái tồn tại và hành chức của các ngôn ngữ trong mối quan hệ tương hỗ về mặt lãnh thổ, xã hội và chức năng trong một thực thể hành chính nhất định. Việc miêu tả cảnh huống dựa trên 3 nhóm tiêu chí căn bản: tiêu chí định lượng (số lượng ngôn ngữ, dân số người nói, số lượng phạm vi giao tiếp), tiêu chí định chất (cội nguồn, loại hình, năng lực ngôn ngữ, các biến thể chức năng) và tiêu chí định giá (thái độ ngôn ngữ, vị thế xã hội của ngôn ngữ).
Thứ hai là lý thuyết song ngữ và song ngữ bất bình đẳng theo quan điểm của Colin Baker và Charles Ferguson. Khái niệm song ngữ xã hội chỉ hiện tượng hai hay nhiều ngôn ngữ cùng hành chức trong một cộng đồng. Trạng thái song ngữ bất bình đẳng xuất hiện khi một ngôn ngữ chiếm ưu thế tuyệt đối lấn át chức năng của ngôn ngữ bản địa, khiến ngôn ngữ yếu thế bị thu hẹp phạm vi sử dụng.
Thứ ba là lý thuyết thái độ ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ. Năng lực ngôn ngữ phản ánh tri thức và khả năng vận dụng ngôn ngữ tiềm tàng của người nói theo quan niệm của Noam Chomsky; trong khi thái độ ngôn ngữ được phân chia thành 3 khuynh hướng: trung thành ngôn ngữ, tự ti ngôn ngữ và kỳ thị ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên khung chính sách ngôn ngữ của Nhà nước Việt Nam, nổi bật là Quyết định 53/CP ban hành ngày 22/2/1980 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số và Thông tư số 1/GD-ĐT năm 1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc dạy học tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn ngữ liệu điền dã thực tế được thu thập trực tiếp tại tỉnh Thái Nguyên trong mốc thời gian từ năm 2016 đến năm 2018.
Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên với quy mô mẫu khảo sát gồm 350 bảng hỏi (ankét) phát cho người dân tộc Sán Dìu tại 3 địa bàn trọng điểm: huyện Đồng Hỷ (chiếm 40,8% dân số Sán Dìu toàn tỉnh), huyện Phú Lương (chiếm 12,2%) và thành phố Thái Nguyên (chiếm 9,2%). Mẫu khảo sát được phân tầng cụ thể theo 3 nhóm tuổi: dưới 25 tuổi, từ 25 đến 50 tuổi và trên 50 tuổi, đảm bảo cân bằng về giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp.
Phương pháp thu thập và phân tích: Tác giả kết hợp phương pháp điền dã ngôn ngữ học, phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát tham dự các tình huống giao tiếp đời thường và phương pháp miêu tả ngôn ngữ học xã hội. Việc lựa chọn phương pháp thống kê phân loại dữ liệu định lượng kết hợp phân tích định tính giúp đo lường chính xác các chỉ số về năng lực ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ, phản ánh khách quan bức tranh hành chức của tiếng Sán Dìu trong đời sống xã hội.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả khảo sát thực địa đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về cảnh huống ngôn ngữ của người Sán Dìu tại Thái Nguyên:
Thứ nhất, có sự mở rộng về địa bàn cư trú nhưng đi kèm với sự phân tán sâu sắc. Năm 1960, người Sán Dìu chỉ cư trú ở 63 trên tổng số 162 xã phường; đến năm 1999, đồng bào đã có mặt tại 154 trên 182 xã phường của tỉnh. Tuy nhiên, có tới 151 trên 154 xã có tỷ lệ cư dân Sán Dìu chiếm dưới 40% dân số, chỉ có 3 xã có tỷ lệ trên 40% là Nam Hòa (61,6%), Tân Lợi (42,5%) và Bàn Đạt (41,3%). Lối sống xen cư đan xen với các dân tộc khác làm giảm mật độ giao tiếp thuần nhất bằng tiếng mẹ đẻ.
Thứ hai, năng lực sử dụng tiếng Sán Dìu có sự phân hóa rõ rệt theo độ tuổi. Trong nhóm người cao tuổi từ 50 tuổi trở lên, tỷ lệ nghe hiểu và nói thành thạo tiếng mẹ đẻ đạt tới 92,5%. Ở độ tuổi trung niên từ 25 đến 50 tuổi, tỷ lệ này giảm xuống còn 61,3%. Đáng báo động nhất là ở nhóm thanh thiếu niên dưới 25 tuổi, tỷ lệ nói thành thạo tiếng Sán Dìu chỉ đạt khoảng 28,4%, trong khi 100% đối tượng trong nhóm này sử dụng hoàn hảo tiếng Việt trong mọi hoạt động hàng ngày.
Thứ ba, phạm vi giao tiếp bằng tiếng Sán Dìu bị thu hẹp đáng kể. Tiếng mẹ đẻ chủ yếu được sử dụng trong không gian sinh hoạt gia đình, chiếm 64,8% khi trò chuyện giữa ông bà, cha mẹ. Tại các hoạt động cộng đồng liên quan đến phong tục, lễ hội hay hát Soọng cô, tiếng Sán Dìu đạt tỷ lệ sử dụng khoảng 52,1%. Ngược lại, trong môi trường hành chính công quyền và trường học, tỷ lệ sử dụng tiếng Sán Dìu gần như bằng 0%, nhường chỗ hoàn toàn cho tiếng Việt.
Thứ tư, tình trạng đứt gãy về văn tự. Mặc dù tiếng Sán Dìu có truyền thống sử dụng chữ Nôm Sán Dìu dựa trên tự dạng Hán cổ, nhưng hiện có trên 95% người dân không biết đọc hoặc viết loại chữ này. Việc phiên âm bằng chữ cái Latinh hiện nay chỉ mang tính tự phát cá nhân, chưa có bộ chữ chuẩn hóa thống nhất toàn tỉnh.
Thảo luận kết quả
Các số liệu khảo sát được tổng hợp chi tiết qua hệ thống 21 bảng thống kê định lượng và 3 biểu đồ so sánh tương quan giữa năng lực ngôn ngữ, độ tuổi và bối cảnh giao tiếp. Biểu đồ cơ cấu cho thấy đường dốc suy giảm mạnh mẽ của năng lực tiếng mẹ đẻ từ thế hệ ông bà sang thế hệ con cháu, minh chứng cho quá trình chuyển đổi ngôn ngữ (language shift) đang diễn ra nhanh chóng.
Nguyên nhân căn bản của thực trạng này bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Về khách quan, tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp chung của quốc gia, là phương tiện duy nhất trong hệ thống giáo dục chính quy và truyền thông đại chúng tại Thái Nguyên. Về chủ quan, thế hệ trẻ Sán Dìu có tâm lý tự ti ngôn ngữ hoặc coi trọng tiếng Việt vì lợi ích học tập và tìm kiếm việc làm, dẫn đến thái độ thờ ơ với việc trau dồi tiếng mẹ đẻ. So sánh với các nghiên cứu trước đây về người Sán Dìu tại Bắc Giang và Tuyên Quang, cảnh huống tại Thái Nguyên có tốc độ mai một tiếng mẹ đẻ nhanh hơn do tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ tại các địa bàn như Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn và phát triển tiếng Sán Dìu:
Thứ nhất, chuẩn hóa và xây dựng hệ thống văn tự Latinh hóa cho tiếng Sán Dìu. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên, các nhà ngôn ngữ học triển khai đề án biên soạn 1 bộ từ điển đối chiếu Việt - Sán Dìu (quy mô khoảng 15.000 từ) và 3 tập tài liệu ngữ liệu dân gian trong khung thời gian 2 năm (2019-2021).
Thứ hai, khôi phục không gian văn hóa cộng đồng thông qua làn điệu Soọng cô. Ủy ban nhân dân các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương và thị xã Phổ Yên cần hỗ trợ thành lập các câu lạc bộ văn hóa dân gian Sán Dìu tại 100% các xã có đông đồng bào sinh sống. Mục tiêu đặt ra là thu hút tối thiểu 60% thanh thiếu niên tại địa phương tham gia học hát và giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, thực hiện định kỳ hàng tháng từ năm 2019.
Thứ ba, phát triển các chương trình phát thanh - truyền hình bằng tiếng dân tộc. Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Thái Nguyên cần xây dựng chuyên mục tiếng Sán Dìu với thời lượng phát sóng 30 phút mỗi tuần trong giai đoạn 2019-2023, lồng ghép tin tức địa phương và các tiết mục văn nghệ truyền thống nhằm tạo môi trường tiếp nhận ngôn ngữ thường xuyên cho người dân.
Thứ tư, áp dụng mô hình giáo dục song ngữ bổ trợ trong trường học. Thực hiện thí điểm lồng ghép giảng dạy tiếng nói và tri thức bản địa Sán Dìu tại 5 trường tiểu học và trung học cơ sở vùng đồng bào dân tộc theo tinh thần Thông tư số 1/GD-ĐT, tiến hành đánh giá hiệu quả sau 3 năm thí điểm để nhân rộng mô hình.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:
Nhóm 1: Các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc như Ban Dân tộc tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng các đề án bảo tồn văn hóa phi vật thể cho 54 thành phần dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Nhóm 2: Các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Dân tộc học và Văn hóa học. Hệ thống 21 bảng số liệu điền dã chi tiết là nguồn tư liệu so sánh quý giá phục vụ các công trình nghiên cứu về đa ngữ và tiếp xúc ngôn ngữ.
Nhóm 3: Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên giảng dạy tại các trường phổ thông dân tộc nội trú thuộc 7 huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, giúp xây dựng phương pháp tiếp cận giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý và ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số.
Nhóm 4: Các già làng, nghệ nhân dân gian và toàn thể cộng đồng 44.134 đồng bào Sán Dìu tại Thái Nguyên, cung cấp tài liệu giúp nâng cao nhận thức, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức tự giác bảo tồn tiếng nói cha ông.
Câu hỏi thường gặp
Câu 1: Cảnh huống ngôn ngữ của người Sán Dìu tại Thái Nguyên thuộc loại hình nào? Trả lời: Cảnh huống ngôn ngữ của người Sán Dìu thuộc loại hình song ngữ bất bình đẳng trong không gian xã hội đa ngữ. Tiếng Việt giữ vị thế ngôn ngữ quốc gia chiếm ưu thế tuyệt đối trong mọi lĩnh vực chính thức, trong khi tiếng Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán - Tạng bị thu hẹp phạm vi sử dụng chủ yếu trong gia đình, với hơn 70% người trẻ có thói quen sử dụng tiếng Việt hoàn toàn.
Câu 2: Dân số người Sán Dìu tại Thái Nguyên chiếm tỷ lệ bao nhiêu trên cả nước? Trả lời: Thái Nguyên hiện có 44.134 người Sán Dìu, chiếm 3,92% tổng dân số của tỉnh và chiếm tới 29,59% tổng dân số người Sán Dìu trên phạm vi cả nước. Địa bàn tập trung đông nhất là huyện Đồng Hỷ với 40,8%, tiếp theo là thị xã Phổ Yên với 21,8% và huyện Phú Lương với 12,2%.
Câu 3: Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Sán Dìu là gì? Trả lời: Nguyên nhân chủ yếu do tình trạng cư trú phân tán tại 154 trên 182 xã phường, sự thiếu vắng môi trường giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ và áp lực hội nhập kinh tế. Khảo sát cho thấy hơn 80% thanh niên lựa chọn tiếng Việt vì sự tiện lợi trong giao tiếp xã hội và cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Câu 4: Ngôn ngữ Sán Dìu có hệ thống chữ viết riêng hay không? Trả lời: Người Sán Dìu có chữ Nôm Sán Dìu được xây dựng trên cơ sở văn tự Hán cổ theo nguyên tắc đồng tự dị ngôn để ghi chép gia phả, sách cúng và các bài hát Soọng cô. Tuy nhiên, hiện có trên 95% người dân không đọc được chữ Nôm và đang có nhu cầu chuẩn hóa hệ thống ký âm bằng chữ cái Latinh.
Câu 5: Nhà nước có những khung pháp lý nào bảo vệ và phát triển tiếng Sán Dìu? Trả lời: Quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của người Sán Dìu được quy định rõ trong Hiến pháp năm 1992, Quyết định 53/CP năm 1980 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư số 1/GD-ĐT năm 1997 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khẳng định sự tôn trọng, duy trì và giúp đỡ phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Kết luận
Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp trọng tâm:
- Phác họa toàn diện bức tranh cảnh huống ngôn ngữ thực chứng của cộng đồng 44.134 người Sán Dìu tại tỉnh Thái Nguyên.
- Làm rõ thực trạng song ngữ bất bình đẳng và sự đứt gãy truyền thụ ngôn ngữ ở thế hệ trẻ với tỷ lệ nói thành thạo dưới 25 tuổi chỉ đạt 28,4%.
- Xây dựng hệ thống dữ liệu điều tra xã hội học ngôn ngữ gồm 21 bảng thống kê chi tiết trên 350 mẫu khảo sát tại 3 vùng địa bàn trọng điểm.
- Xác định giá trị văn hóa cốt lõi của tiếng mẹ đẻ gắn liền với di sản dân ca Soọng cô và hệ thống chữ Nôm truyền thống.
- Đề xuất lộ trình 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa chuẩn hóa văn tự, giáo dục song ngữ và truyền thông cộng đồng trong giai đoạn 2019-2025.
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học vững chắc cho việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Các cơ quan quản lý và cộng đồng cần nhanh chóng chung tay triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn chặn nguy cơ mai một của ngôn ngữ Sán Dìu trong tương lai.