ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dƣỡng trẻ em là tình trạng bệnh lý mang tính cộng đồng ở nhiều nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Phân bố suy dinh dƣỡng trẻ em khác biệt rõ nét giữa các châu lục, các vùng miền trên thế giới. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Các vùng Nam Trung Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Tây Phi và Trung Phi có trẻ em suy dinh dƣỡng luôn cao, nhất là Ấn Độ, Bangladesk, Đông Timor, Lào, Niger, Somalia, Burnika [140].
Ở nƣớc ta trong những năm qua nhờ triển khai Chƣơng trình quốc gia phòng chống suy dinh dƣỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dƣỡng chung ở trẻ em dƣới 5 tuổi đã giảm đáng kể, từ 43,9% năm 1995 [2] còn 16,8% năm 2012 [69]. Tuy nhiên, mức độ giảm xuống không đồng đều giữa các vùng, khu vực, suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi vẫn còn cao và rất cao ở vùng miền núi cao, đồng bào dân tộc thiểu số [29], [59]. Các khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ là những nơi có tỷ lệ suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi cao hơn so với các vùng khác trên cả nƣớc [22], [31], [69]. Suy dinh dƣỡng không chỉ làm chậm phát triển thể chất, trí tuệ, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong trẻ em dƣới 5 tuổi [70], mà còn gây nên hậu quả lâu dài lên tầm vóc ngƣời trƣởng thành, giảm khả năng lao động và ảnh hƣởng tới thu nhập quốc dân [4].
Có nhiều yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dƣỡng của trẻ, không nhƣ nhau ở mỗi địa phƣơng, cần tìm hiểu trong từng cộng đồng cụ thể. Quảng Nam là một tỉnh ven biển miền Trung, với 8 huyện miền núi cao, trong đó Bắc Trà My là huyện mà tỷ lệ suy dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi cao nhất tỉnh (32,2%) và điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn so với các huyện, thị thành khác của tỉnh [66]. 2 Bắc Trà My có 12 xã, 1 thị trấn, trong đó có 9 xã thuộc Chƣơng trình 135 của Chính phủ với 90 % đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống [47]. Kết quả khảo sát năm 2009 tại các xã Chƣơng trình 135 huyện Bắc Trà My thấy tỷ lệ suy dinh dƣỡng trẻ em dân tộc thiểu số dƣới 5 tuổi thể nhẹ cân 36,7%, thể thấp còi 63,3%, thiếu máu lâm sàng 57,1%, nhiễm khuẩn hô hấp 47,8% [9].
Địa phƣơng chƣa quan tâm bổ sung cho trẻ ở vùng đặc biệt khó khăn các vi chất dinh dƣỡng nhƣ sắt, axit folic [2], kẽm [81], [105] và chƣa xổ giun định kỳ cho trẻ theo khuyến cáo của Bộ Y tế [2]. Đặc biệt có rất nhiều trẻ em hàng ngày ăn thiếu thực phẩm sẵn có giàu dinh dƣỡng, nhƣ thiếu chất đạm 74,4%, thiếu chất béo 76,8% [9]. Mặt khác, các bà mẹ gặp nhiều rào cản trong việc nuôi dƣỡng, chăm sóc trẻ nhƣ: 21,3% mù chữ, 29,5% tiểu học, 62,8% hộ nghèo và nhiều tập tục lạc hậu nhƣ không dám cho con ăn “chất tanh”, kiêng khem khi con bị ốm. Nhƣng kết quả khảo sát cho thấy các bà mẹ rất tin tƣởng vào những ngƣời có uy tín tại địa phƣơng [9].
Từ thực trạng trên, nhằm tìm ra mô hình phù hợp huy động nguồn lực cộng đồng phòng chống suy dinh dƣỡng trẻ em dân tộc thiểu số dƣới 5 tuổi dựa vào vai trò ngƣời có uy tín và bối cảnh đặc thù của nhóm đích, cải thiện hành vi nuôi con của bà mẹ, qua đó cải thiện tình trạng suy dinh dƣỡng và bệnh tật trẻ em, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam”, với các mục tiêu sau: 1. Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam. Đánh giá kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
THỰC TRẠNG SUY DINH DƢỠNG TRẺ EM DƢỚI 5 TUỔI 1. Tình hình thiếu dinh dƣỡng trẻ em dƣới 5 tuổi 1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới Theo kết quả điều tra suy dinh dƣỡng trẻ em (SDDTE) dƣới 5 tuổi tại 79 nƣớc đang phát triển giai đoạn từ 1980-1992 của Onis M. và cộng sự thấy có 192,5 triệu trẻ nhẹ cân (35,8%); 229,9 triệu thấp còi (42,7%) và 49,5 triệu gầy còm (9,2%).
Các nƣớc có tỷ lệ trẻ em suy dinh dƣỡng (SDD) cao và rất cao nhƣ Bangladesh có 65,8% nhẹ cân, 64,6% thấp còi và 15,5% gầy còm; Ấn Độ có 63,9% nhẹ cân, 62,1% thấp còi và 19,2% gầy còm; Guatemala với 33,5% nhẹ cân và 57,9% thấp còi [111]. Tại hội nghị thƣợng đỉnh về dinh dƣỡng tổ chức tại Roma tháng 12/1992, các chuyên gia đã đƣa ra chƣơng trình hành động, có sự cam kết của các quốc gia nhằm làm giảm SDDTE xuống còn một nửa vào năm 2000 so với năm 1990 [88]. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy các nƣớc thuộc châu Á, châu Phi từ trƣớc cho đến nay vẫn có tỷ lệ SDDTE cao so với các châu lục khác [133], [141]. Báo cáo của WHO năm 1995 trên toàn cầu có 169,5 triệu trẻ nhẹ cân (27,8%); 213,1 triệu thấp còi (34,9%) và 50,2 triệu gầy còm (8,4%).
Trong đó, các nƣớc đang phát triển chiếm đại đa số với 98,2% (166,5 triệu) nhẹ cân; 86,0% (204,6 triệu) thấp còi và 81,0% (6,8 triệu) gầy còm. Tiếp đến, ở châu Phi (28,4% nhẹ cân, 38,6% thấp còi và 7,1% gầy còm), các vùng chiếm tỷ lệ cao là Đông Phi 4 (49,3% nhẹ cân, 49,6% thấp còi và 15,2% gầy còm) và Tây Phi (49,3% nhẹ cân, 49,6% thấp còi và 15,2% gầy còm) [135]. Trong vòng 15 năm trở lại đây, SDDTE có xu hƣớng giảm trên phạm vi toàn cầu. Thống kê của Qũy Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), WHO và Ngân hàng thế giới năm 2011 về SDDTE dƣới 5 tuổi thấy châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% nhẹ cân (69,1 triệu) và tỷ lệ 10,1% gầy còm (36,1 triệu).
Riêng trẻ thấp còi, châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,6% (56,3 triệu); tiếp theo là châu Á: 26,8% (98,4 triệu). Hai châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [130]. Hiện nay, theo kết quả nghiên cứu trẻ em dƣới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) nhẹ cân, 171,0 triệu (27,0%) thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) gầy còm [120]. Các khu vực Nam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDDTE cao nhất [120].
Những quốc gia còn tỷ lệ SDDTE cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tƣơng ứng nhƣ Timor Leste năm 2010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm 2011 (38,5%, 51,0%, 12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%, 43,7%, 15,1%); Bangladesh năm 2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%) [128]. Các số liệu SDDTE trên toàn cầu chủ yếu phân theo các châu lục, vùng lãnh thổ và theo từng quốc gia; chưa chú trọng đúng mức việc xác định SDDTE theo từng từng chủng tộc, tộc người trong các báo cáo thƣờng niên của WHO và UNICEF [126], [140]. Nghiên cứu của Larrea C. tại các nƣớc Nam Mỹ cho thấy tỷ lệ trẻ em thấp còi năm 1999 ở các tộc ngƣời bản xứ liên quan chặt chẽ với điều kiện kinh tế đói nghèo và cao hơn cách biệt so với trẻ em không thuộc tộc ngƣời bản xứ, nhƣ ở Ecuador (58,2% so với 24,2%); ở Peru (47,0%/22,5%) và Bolivia (50,5%/23,7%) tƣơng ứng [103].
Tổ chức xã hội học Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với các yếu tố chủng 5 tộc, dân tộc tại chính quốc năm 2005 thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong trẻ em ở năm đầu đời của ngƣời Mỹ gốc Phi cao gấp 2 lần trẻ em da trắng. Trẻ em Mỹ gốc Nhật có tỷ lệ tử vong thấp hơn 8,2 lần so với tộc ngƣời Hawaiians [77]. và cộng sự khảo sát tại Guatemala năm 2003 thấy trẻ em tộc ngƣời bản xứ có tỷ lệ thấp còi (57,6%) và nhẹ cân (27,8%) cao hơn tỷ lệ chung (44,2% và 22,3%) tƣơng ứng; trong đó, tộc ngƣời Mam (65,3% và 39,4%); ngƣời Mayan (62,5% và 31,9%) tƣơng ứng [75]. Nghiên cứu của Spencer N.
về các tộc ngƣời châu Âu năm 2003 thấy trẻ em các tộc ngƣời bản xứ ở Trung và Đông Âu có tỷ lệ SDDTE, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn nhiều lần trẻ em không thuộc tộc ngƣời bản xứ [121]. Điều tra của Hatlekk M. năm 2012 thấy tỷ lệ thấp còi trẻ em khác nhau giữa các tộc ngƣời vùng Nam Á: Tộc ngƣời Bà la môn (Brahmin) 45,1%; Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% và Hồi giáo (Muslim) 72,8% [92]. Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng cũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc ngƣời.
Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia bị thấp còi 50,0% và trẻ nhẹ cân 45,0% chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu số. Tƣơng tự, tỷ lệ tƣơng ứng ở Lào là 40,0% và 37,0%. Ở Phillippines, trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [129]. Bên cạnh tình trạng thiếu dinh dƣỡng protein-năng lƣợng, việc thiếu hụt vi chất dinh dƣỡng ảnh hƣởng hơn hai tỷ ngƣời, khoảng một phần ba dân số thế giới hiện nay.
Bất cập về thiếu vi chất dinh dƣỡng, đặc biệt là sắt, kẽm đã đƣợc báo cáo ở nhiều nƣớc đang phát triển [116], [122]. Thiếu vi chất dinh dƣỡng là một vấn đề toàn cầu lớn hơn nhiều so với nạn đói và gây phí tổn rất lớn về xã hội, bệnh tật làm giảm năng suất lao động, chất lƣợng cuộc sống kém; tạo ra vòng luẩn quẩn của suy dinh dƣỡng, kém phát triển và nghèo đói. WHO khảo sát giai đoạn 1990-1995, tỷ lệ thiếu máu trẻ em dƣới 5 tuổi ở các 6 nƣớc đang phát triển là 39,0% và ở các nƣớc phát triển 20,1% [136]. Số liệu WHO giai đoạn 1993-2005 có 47,4% (293,1 triệu) trẻ em dƣới 5 tuổi trên toàn cầu bị thiếu máu.
Châu Phi có 67,6% trẻ thiếu máu, cao nhất các châu lục. Đông Nam Á có 65,5% trẻ thiếu máu. Nhiều nƣớc có tỷ lệ trẻ thiếu máu rất cao nhƣ Burnica Faso 91,5% (2003); Sudan 84,6% (1995); Cộng hòa Trung Phi 84,2% (1999); Ấn Độ 74,3% (2000), Tanzania 71,8% (2005) [139].