CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu ngoài nước Tên đề tài: Parent-adolescent conflict: Daily Parent-Teen Conflict and Parent and Adolescent (2020) Tác giả: Karol Silva, Carol a Ford, Victoria a Miller. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp khám phá để tìm hiểu những xung đột giữa thanh thiếu niên và cha mẹ họ trong các gia đình thanh thiếu niên tại Mỹ. Nghiên cứu sử dụng hai phương pháp: phỏng vấn bán cấu trúc và khảo sát bằng bảng câu hỏi. Các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng để khám phá các chủ đề xung đột giữa thanh thiếu niên và cha mẹ của họ, động cơ, cảm xúc và lý do làm cơ sở cho cách họ phản ứng với xung đột và xác định các yếu tố liên quan đến xung đột và giải quyết xung đột.
Theo công trình nghiên cứu trên, thì kết quả từ tác giả đã cho thấy xung đột giữa cha mẹ và con cái thường diễn ra thường xuyên và ảnh hưởng đến mối quan hệ tổng thể, các yếu tố về sự khác biệt trong kỳ vọng, giá trị và cách thức giao tiếp là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn và sự xung đột có thể dẫn đến căng thẳng tâm lý cho cả cha mẹ và con cái, ảnh hưởng đến cảm xúc và tâm lý. Thành tích nghiên cứu từ đề tài trên đã đem lại kết quả nghiên cứu chính xác và trực quan về vấn đề xung đột tâm lý, điều này góp phần tạo ra các phương pháp để cha mẹ có thể hiểu được những vấn đề xung đột với con cái mình, tuy nhiên với phương pháp nghiên cứu trên thì vẫn còn những mặt hạn chế, phương pháp nghiên cứu không đa dạng về văn hóa hoặc xã hội, kết quả có thể không phản ánh đúng thực tế của toàn bộ sinh viên hay con cái, kết quả có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi văn hóa của sinh viên Mỹ, khó khăn trong việc kiểm soát biến số, trong tâm lý học có nhiều yếu tố biến số làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu cuối cùng.2 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam xung đột tâm lý trong quan hệ liên nhân cách và các mối quan hệ trong gia đình đã được các nhà khoa học nước nhà quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn mang tính chất chung chung, tính chất định hướng nghiên cứu là chủ yếu, nhất là khó khăn tâm lý trong giao tiếp của sinh viên và cha mẹ vẫn còn chưa được nghiên cứu nhiều và toàn diện ở Việt Nam. Theo bài nghiên cứu “Xung đột tâm lý trong giao tiếp với cha mẹ ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở” của Phí Thị Thu Huyền (2026) thì kết quả khảo sát cho thấy căng thẳng thường xuất hiện do sự khác biệt trong nhận thức về sự độc lập, quan hệ xã hội, và các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày như học tập, bạn bè, thói quen sinh hoạt.
Cho thấy đa số học sinh đánh giá mối quan hệ với cha mẹ là bình thường trong đó đáng lưu ý là một tỉ lệ không nhỏ học sinh không cảm thấy thoải mái, hài lòng trong quan hệ với cha mẹ. Nghiên cứu đã xác định các nguyên nhân, biểu hiện của xung đột tâm lý trong giao tiếp giữa học sinh trung học cơ sở và cha mẹ, đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp cải thiện mối quan hệ này. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào học sinh trung học cơ sở tại một địa phương cụ thể, dẫn đến hạn chế về tính đại diện và tổng quát của kết quả. Kết quả có thể không phản ánh được toàn bộ bối cảnh xã hội, văn hóa, hoặc những biến đổi tâm lý ở các lứa tuổi khác hoặc ở các địa phương khác.
Điều này làm giảm khả năng áp dụng kết quả nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn, và cũng hạn chế khả năng so sánh với các nghiên cứu khác ở các khu vực hoặc nhóm tuổi khác nhau.2 Khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm khó khăn tâm lý Tác giả Lê Minh (2018) cho rằng: “Khó khăn tâm lý là sự thiếu hụt, không toàn vẹn về phẩm chất tâm lý thể hiện ở sự hạn chế về mặt nhận thức, thái độ và hành vi làm cá nhân lúng túng, lo lắng, gặp nhiều trở ngại khi tiến hành thực hiện một hoạt động nào đó.” Theo Hoàng Thị Thu Hiền (2022): “Khó khăn tâm lý là những đặc điểm tâm lý không phù hợp với yêu cầu nội dung, đối tượng, hoàn cảnh công việc được thể hiện ở sự hạn chế về mặt nhận thức, thái độ, hành vi, làm cản trở quá trình hoạt động của cá nhân. Khó khăn tâm lý thường nảy sinh do các yếu tố khách quan (điều kiện, môi trường, phương tiện, xã hội.), hoặc các yếu tố chủ quan (nhận thức, thái độ, năng lực, sự hứng thú. của mỗi cá nhân).” Trên cơ sở kế thừa các quan điểm nghiên cứu của các tác giả đi trước, có thể hiểu rằng khó khăn tâm lý là trạng thái mà một cá nhân gặp phải khi đối mặt với các vấn đề hoặc thách thức liên quan đến cảm xúc, suy nghĩ và hành vi. Những khó khăn này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm áp lực trong công việc, học tập, mối quan hệ cá nhân, hoặc các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống.
5 Khó khăn tâm lý thường biểu hiện qua các triệu chứng như lo âu, trầm cảm, cảm giác cô đơn. Chúng có thể ảnh hưởng đến khả năng hoạt động hàng ngày, sự tự tin và chất lượng cuộc sống của con người. Đối với nhiều người, việc nhận diện và giải quyết những khó khăn tâm lý này là rất quan trọng để phục hồi sức khỏe tâm thần và cải thiện mối quan hệ xã hội.2 Khái niệm giao tiếp Theo Thạc Sĩ Nguyễn Ngọc Lâm (1998): “Giao tiếp là một quá trình thiết lập mối quan hệ hai chiều giữa một người với một người hoặc với nhiều người xung quanh, liên quan đến sự truyền đạt thông điệp và sự đáp ứng với sự truyền đạt ấy. Giao tiếp là một quá trình qua đó chúng ta phát và nhận thông tin, suy nghĩ, có ý kiến và thái độ để có được sự thông cảm và hành động.
Tóm lại, giao tiếp là một quá trình chia sẻ qua đó thông điệp sản sinh đáp ứng.” Giao tiếp không chỉ là việc truyền đạt thông tin mà còn là sự hiểu biết lẫn nhau và tạo dựng mối quan hệ. Giao tiếp hiệu quả đòi hỏi sự lắng nghe, thấu hiểu và phản hồi tích cực. Nó đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sống, từ mối quan hệ cá nhân đến công việc, học tập và tương tác xã hội. Thiếu giao tiếp hoặc giao tiếp kém có thể dẫn đến những hiểu lầm và những xung đột không đáng có.3 Khái niệm khó khăn tâm lý khi giao tiếp Khó khăn tâm lý khi giao tiếp là tình trạng mà một cá nhân gặp phải khi cố gắng truyền đạt hoặc tiếp nhận thông tin, cảm xúc và ý kiến từ người khác.
Theo nghiên cứu của Lê Thị Xuân Mai (2012): “Trở ngại tâm lý trong giao tiếp là toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.” Khó khăn này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân bao gồm lo âu, thiếu tự tin, cảm giác không thoải mái, hoặc những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ. Những khó khăn này có thể dẫn đến việc không thể bày tỏ rõ ràng suy nghĩ hoặc cảm xúc, gây hiểu lầm và xung đột trong mối quan hệ. Hệ quả là người gặp khó khăn tâm lý trong giao tiếp có thể cảm thấy cô đơn, bị cô lập và không thể xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh.4 Khái niệm sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học định nghĩa sinh viên như sau: “Sinh viên là người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học” (Bùi Hiền, 2001). Họ thường đã hoàn thành bậc học phổ thông và đang theo đuổi kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể.
Sinh viên không chỉ tham gia vào quá trình học tập mà còn tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, nghiên cứu và phát triển bản thân. Đây là một trong những giai đoạn phát triển quan trọng của độ tuổi thanh thiếu niên. Ở sinh viên có những đặc điểm tâm sinh lý hết sức đặc trưng về ý thức, tư duy, tình cảm do đặc điểm lứa tuổi và tính chất hoạt động học tập ở đại học. 6 Tóm lại, những yếu tố ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý khi giao tiếp của sinh viên là những tác động tiêu cực từ gia đình và xã hội, gây ra những vấn đề tâm lý căng thẳng, lo âu và áp lực lên sinh viên.
Từ đó sinh viên có những rào cản, ngần ngại trong việc giao tiếp và bày tỏ quan điểm của mình với cha mẹ.3 Các yếu tố khó khăn tâm lý khi giao tiếp với cha mẹ của sinh viên 1.1 Yếu tố từ bản thân Khi thanh thiếu niên trở nên tự chủ và độc lập hơn họ có xu hướng giữ bí mật chọn những gì tiết lộ cho cha mẹ và những thông tin nào giữ lại. Thanh thiếu niên giữ lại thông tin và giữ bí mật với cha mẹ vì nhiều lý do, bao gồm để tránh sự phê bình, đạt được cảm giác tự chủ (Marshall et al. 2005), hoặc bảo vệ sự riêng tư của họ. Đặc biệt, nam giới có xu hướng gia tăng sự bí mật với cha mẹ trong giai đoạn đầu đến giữa tuổi vị thành niên (Keijser et al.
Mặc dù việc giữ bí mật có thể là một quá trình bình thường trong sự phát triển của thanh thiếu niên, nhưng nghiên cứu thực nghiệm nhất quán cho thấy rằng sự bí mật là bất lợi về mặt tâm lý đối với sự phát triển của thanh thiếu niên (Finkenau et al. 2002) và liên quan đến mức độ hành vi nội tâm hóa và ngoại tâm hóa cao hơn theo thời gian. (Frijns et al. Có thể rằng những thanh thiếu niên giữ kín thông tin với cha mẹ sẽ ít nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ từ cha mẹ, do đó có thể trải qua sự phát triển tâm lý - xã hội kém hơn gây nên vấn đề khó giao tiếp hơn với gia đình.
Ở độ tuổi này, các thanh thiếu niên có nhu cầu khẳng định bản thân và độc lập, điều này có thể dẫn đến những xung đột với cha mẹ. Sự khác biệt về thế hệ: Cách suy nghĩ giữa con cái và cha mẹ có thể khác nhau do khoảng cách về tuổi tác và kinh nghiệm sống. Tình cảm phức tạp: Con cái có thể cảm thấy ngại ngùng, e dè hoặc lo lắng khi chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc của mình với cha mẹ.