Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Khi bàn về vấn đề động cơ, mỗi trường phái thường xuất phát từ những quan điểm, nguyên tắc phương pháp luận khác nhau. Do vậy, trong các tài liệu Tâm lý học, trên bình diện nghiên cứu lý luận, có rất nhiều quan điểm khác nhau về động cơ. Quan điểm phi Mác-xít về động cơ S.Freud (1915) - người tiêu biểu cho thuyết bản năng cho rằng: những bản năng là nguồn gốc năng lượng, là động lực chủ yếu thúc đẩy mọi hoạt động của con người.
Những người theo học thuyết này nhìn nhận con người như một “tồn tại” sinh học và có “hệ động cơ” như là những năng lượng sinh học đặc biệt. Năng lượng này được tạo ra bởi những bản năng của con người, trong đó quan trọng nhất là bản năng về tình dục (Libido). Freud cho rằng “phần lớn các bản năng tác động một cách vô thức, song chúng lại ảnh hưởng đến các suy nghĩ, tình cảm cũng như hành động có ý thức của ta, đôi khi ta lại ở trong thế xung đột với các đòi hỏi của xã hội”. [10; 367] Clark Hull (1952) là người phát triển đầy đủ nhất của thuyết xung năng cho rằng: động cơ là cần thiết trong quá trình học tập và học tập là điều cốt lõi cho sự thích nghi có hiệu quả với môi trường.
Tương tự như Freud, Clark Hull nhấn mạnh vai trò sự căng thẳng trong động cơ, ông cho rằng giảm căng thẳng có ý nghĩa củng cố. Theo quan điểm này, các xung năng sơ cấp có cơ sở sinh học được khơi dậy khi sinh vật bị tước đoạt. Những xung năng này hoạt hóa sinh vật, khi được thỏa mãn hoặc giảm thiểu thì sinh vật ngừng hoạt động. Thuyết giảm xung năng mang ý nghĩa cân bằng nội tại là vì nó cho rằng một sinh vật bị khơi dậy xung năng là để duy trì thế cân bằng nội tại, một thế cân bằng bên trong các hệ và các quá trình của cơ thể.
Thuyết giảm xung năng cân bằng nội tại này của động cơ và học tập đã có ảnh hưởng cho tới giữa nhưng năm 1950 khi nó bị thách thức bởi các dữ kiện mới. [10; 368] Đại diện mới của thuyết Phân tâm Atler cho rằng: ý chí đối với quyền lực là động lực của những động cơ quyền lực và hành vi của con người, về thực chất, ý chí quyền lực cũng là sức mạnh của bản năng nhưng tồn tại dưới hình thức khác.Koch lại quan niệm động cơ như là sự đói khát, nghỉ ngơi, tranh đấu, sinh dục… Các nhà Tâm lý học hành vi (Skiner, Watson) giải thích nguồn gốc của năng lực hành vi là những lực trừu tượng khó nhận biết, là bản năng vô thức của con người. Họ quan niệm hành vi của con người chính là tổng hợp những phản ứng đáp lại các kích thích. Abraham Maslow (1970) đại diện cho thuyết Nhân văn về động cơ của con người đã cắt nghĩa cả những hành động làm giảm căng thẳng lẫn những hành động làm tăng căng thẳng.
Maslow đối lập khái niệm động cơ do thiếu hụt, trong đó con người tìm kiếm để phục hồi thế cân bằng sinh lý hoặc tâm lý, với khái niệm động cơ muốn thăng tiến, trong đó con người làm nhiều hơn so với điều chỉ để làm giảm thiếu hụt là vì con người tìm kiếm nhằm thể hiện đầy đủ nhất tiềm năng của mình. Ngoài có động cơ muốn thăng tiến, có thể chấp nhận sự bấp bênh, sự căng thẳng và thậm chí là sự đau đớn nếu họ nhìn thấy nó là một cách thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình và là một cách hoàn thành mục tiêu.Levin, Zei-garmik, K.Lissner… cho rằng: động cơ chỉ là sự tác động qua lại giữa những nội lực ở bên trong với trường lực ở bên ngoài. Các tác giả này đều phủ nhận và trò của ý thức đối với hành vi của con người và mới chỉ đề cập đến khía cạnh nội dung của động cơ, tức là chưa chú ý đến vai trò của chủ thể hoạt động trong mối quan hệ xã hội phong phú, đa dạng. Do vậy, họ đều không tìm thấy bản chất thực sự của động cơ hành vi con người.Leontiev khi nghiên cứu về động cơ Tâm lý người, các nhà Tâm lý học phương Tây đã coi hệ động cơ như là những kích thích tích cực của con người, mà những kích thích đó mang tính chất bản năng sinh học và được tạo ra một cách bẩm sinh [11].
Mặt khác, họ lại chủ quan coi động cơ được quyết định bởi các yếu tố thuộc hoàn cảnh bên ngoài. Cách hiểu như vậy dẫn đến sự lẫn lộn giữa các hiện tượng hoàn toàn khác loại và những mức độ hoàn toàn khác biệt điều chỉnh hoạt động của con người. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đây của các nhà Tâm lý học phương Tây xuất phát từ sai lầm về phương pháp luận trong nghiên cứu Tâm lý con người nói chung và nghiến cứu về động cơ nói riêng. Họ nghiên cứu Tâm lý con người ở trạng thái siêu hình (con người là một thực thể sinh học) tách rời khỏi hoạt động, tách rời khỏi các mối quan hệ xã hội mà con người đang sống.
Quan niệm của Tâm lý học Mác-xít về động cơ Dòng phái Tâm lý học Mác-xít với những đại diện tiêu biểu như L.Bubinstein… cho rằng: con người không phải là “con người sinh vật” thuần túy, không phải là “con người cá nhân” đối lập với xã hội mà con người là “con người xã hội” với tất cả những mối quan hệ, những hoạt động có ý thức của nó. Ý thức – Tâm lý con người được sinh ra bởi hoạt động của chủ thể nhằm lĩnh hội và tạo lập các mối quan hệ xã hội, tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần để cải tạo và xây dựng xã hội, khẳng định bản thân, từ đó hình thành nên bộ mặt tâm lý của mỗi con người [12]. Vì vậy, muốn hiểu được tâm lý người, trước hết phải đi từ cuộc sống thực của con người thông qua những hoạt động và các mối quan hệ xã hội của con người [5]. Trong “Hoạt động – Ý thức – Nhân cách”, Leontiev cho rằng: động cơ hoạt động của con người cực kỳ đa dạng được nảy sinh từ những nhu cầu, hứng thú khác nhau.
Một hoạt động có thể xuất phát từ nhiều động cơ thúc đẩy và trong cấu trúc của hoạt động, những động cơ này được sắp xếp theo một hệ thống có thứ bậc [11]. Leontiev, động cơ là đặc trưng chủ yếu trong tâm lý con người, nó thúc đẩy và điều khiển mọi hoạt động của con người. Ý thức và quá trình nhận thức của con người đã được phát triển trong quá trình hình thành động cơ của họ. “Động cơ là một cái khách quan mà trong đó nhu cầu tìm kiếm bản thân mình trong những điều kiện nhất định, cái khách quan ấy làm cho hoạt động thành hoạt động có đối tượng, và là cái hướng hoạt động vào một kết quả nhất định”.
[7; 273] Lý luận của Tâm lý học nhân cách chỉ ra rằng, động cơ có cấu trúc hết sức phức tạp, có nhiều hệ thống và tùy thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng lứa tuổi trong những giai đoạn phát triển mà loại động cơ nào trở nên chiếm ưu thế trong cấu trúc thứ bậc đó.Leontiev, “Động cơ là một hiện tượng tâm lý sâu kín nhất. Ngay cả với những nhân cách đã trưởng thành không phải bao giờ cũng ý thức đầy đủ động cơ hoạt động của mình. Các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một cách khách quan bằng cách phân tích hoạt động. Còn trong lĩnh vực chủ quan thì các động cơ chỉ thể hiện dưới các dạng gián tiếp của nó, tức là dưới hình thức những trải nghiệm, những mong ước, ý muốn, nguyện vọng đạt tới mục đích”.Leontiev là người đại diện tiêu biểu cho dòng phái Tâm lý học Mác-xít đã có những nghiên cứu đầy đủ và rõ ràng về lý luận động cơ của con người.
Những kết quả nghiên cứu của ông đã được nhiều nhà Tâm lý học trên thế giới vận dụng và phát triển để làm cơ sở khi nghiên cứu về động cơ của con người. Các nhà tâm lý học Việt Nam đã có sự thống nhất cao với các nhà tâm lý học Xô Viết, nhất là ý kiến của A.Lomov… khi bàn về khái niệm động cơ. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu cho rằng: những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác nằm trong hiện thực khách quan, một khi chúng bộc lộ ra, được chủ thể nhận biết sẽ thúc đẩy, hướng dẫn con người hoạt động. Khi ấy, nó sẽ trở thành động cơ của hoạt động.
Trong từ điển Tâm lý do Nguyễn Khắc Viện chủ biên đã nêu rằng: động cơ là những gì thôi thúc con người có những hành vi ứng xử nhất định. Động cơ thường gắn liền với nhu cầu, nhu cầu chưa được thoả mãn tạo ra tình trạng căng thẳng, thôi thúc hoạt động cho đến khi thoả mãn. Tác giả Hồ Ngọc Đại khi nghiên cứu về động cơ đã kết luận: chiếm được cái cụ thể hoá nhu cầu của họ đó là động cơ hoạt động của họ. Đối tượng là động cơ đích thực của hoạt động.
“Động cơ có hai nơi ở bên ngoài và bên trong tâm lý. Khi nó ở bên ngoài thì hoạt động lên đối tượng này gọi là hoạt động ở hình thái bên ngoài, nếu nó ở bên trong thì hoạt động tác động lên nó là hoạt động bên trong. Trong cả hai trường hợp bao giờ cũng là sự gặp gỡ giữa chủ thể và đối tượng của hoạt động”. Cũng theo tác giả, mục đích học tập là một biểu hiện cụ thể của một khâu trong chuỗi logic của đối tượng học tập.
Như vậy, quá trình đạt mục đích học tập cũng là quá trình hình thành động cơ trong điều kiện cụ thể xác định của tiến trình hoạt động (học tập), cho nên không thể có một động cơ nào khác bên ngoài hoạt động áp đặt vào cho nó nghĩa là không thể có một quá trình riêng rẽ hình thành động cơ học tập bên ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ học tập. Trong thực tiễn giáo dục, động cơ học tập phải được cụ thể hóa thành hệ thống mục đích, do đó việc chiếm lĩnh đối tượng được thực hiện một cách hiện thực bởi chủ thể dưới hình thức thực hiện các nhiệm vụ học tập. [5, 217] Theo tác giả Phạm Minh Hạc, động cơ là các đối tượng bên ngoài chứa đựng trong bản thân chúng khả năng thỏa mãn nhu cầu. [7; 273] Như vậy, những cái trở thành yếu tố tâm lý hướng dẫn, thúc đẩy chủ thể hoạt động đều là biểu hiện cụ thể của động cơ.