Tổng quan luận án
Công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (mã số 9.01) của nghiên cứu sinh Lê Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thanh Bình tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2019), mang tiêu đề: "Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh giáo dục thế kỷ XXI đặt trọng tâm vào phương châm "học để cùng chung sống" của UNESCO và định hướng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF, 2015) về các nhóm kỹ năng thiết yếu, trong đó kỹ năng hợp tác và học tập nhóm (HTN) đóng vai trò then chốt giúp giải quyết các nhiệm vụ phức tạp. Tại Việt Nam, việc chuyển đổi phương thức đào tạo đại học từ niên chế sang học chế tín chỉ đòi hỏi phát huy tính chủ động của người học theo ba nguyên lý: dân chủ, đại chúng hóa và dạy học tích cực. Đồng thời, Điều 28 Luật Giáo dục 2005 cũng nhấn mạnh yêu cầu bồi dưỡng phương pháp tự học và khả năng làm việc theo nhóm cho người học.
Sinh viên sư phạm (SVSP) – lực lượng giáo viên tương lai – giữ vai trò nòng cốt trong việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông. Tuy nhiên, thực tế đào tạo cho thấy SVSP còn thiếu hụt kỹ năng mềm và kỹ năng cộng tác, dẫn đến nhiều khó khăn tâm lý (KKTL) ở các mặt nhận thức, thái độ và hành vi khi tham gia HTN theo tín chỉ (như lúng túng khi thể hiện quan điểm, chưa biết cách tổ chức công việc nhóm, thờ ơ trong phân công vai trò hoặc chưa xác định rõ mục tiêu). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận kỹ năng hợp tác hoặc sự thích ứng học tập nói chung, chưa có nghiên cứu chuyên sâu làm rõ hệ thống biểu hiện, mức độ KKTL của SVSP theo từng giai đoạn HTN cụ thể, cũng như sự khác biệt theo nhóm trường, năm học, học lực và các yếu tố tâm lý - xã hội tác động.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực trạng KKTL trong HTN của SVSP, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp khắc phục KKTL trong học tập nhóm của SVSP.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản luận án):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu KKTL trong HTN theo học chế tín chỉ ở trong và ngoài nước.
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KKTL trong HTN theo học chế tín chỉ của SVSP.
- Đánh giá thực trạng KKTL trong HTN của sinh viên các trường Sư phạm và các yếu tố ảnh hưởng tới KKTL trong HTN.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích hạn chế KKTL trong HTN ở SVSP.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ KKTL trong các giai đoạn HTN theo học chế tín chỉ của SVSP.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các biểu hiện KKTL ở 3 mặt (nhận thức, thái độ, hành vi) qua 4 giai đoạn HTN theo học chế tín chỉ; đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan (động cơ, tính tích cực, kỹ năng HTN) và yếu tố khách quan (giảng viên, nhóm trưởng, đặc điểm lớp học).
- Phạm vi khách thể và địa bàn khảo sát: Nghiên cứu được tiến hành trên 540 sinh viên và 18 cán bộ giảng viên thuộc 3 cơ sở đào tạo giáo viên tại Hà Nội và khu vực lân cận gồm: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN), Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (ĐHTĐ HN) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (ĐHSP HN 2).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 hướng chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Hướng 1: KKTL trong học tập] [Hướng 2: Thảo luận & HTN] [Hướng 3: KKTL trong làm việc/HTN]
• Quốc tế: Bianka Zazzo, • Quốc tế: Viện NTL (Kim tự • Quốc tế: Tolessa Muleta Daba
A. Petropxki, Ballard & tháp học tập), Allport, et al. (2015), Jelena
Clanchy (1985), Ronald Watson, Shaw & Mead (1937- Stepanova, Campbell & Li,
Gross (1999), Bob Smale & 1940), May & Doob, Bruce Päivi Kinnunen & Lauri
Julie Fowlie (2009), Tuckman (1965), David & Malmi (2004), Brookfield,
Murray Evely & Zoe Ganim Roger Johnson (1990-2001), Preskill & Bass (1999),
(2011). Larry Michaelsen (TBL), John C. Maxwell (2001),
• Việt Nam: Nguyễn Xuân Thức & Rachel E. Colyer & Jason Sean Covey, Blair Singer (2004),
Đào Thị Lan Hương (2007), Manning (2016), Spencer Tony Buzan (2002 - TEFCAS),
Đỗ Thị Hạnh Phúc & Triệu Thị Kagan (Cấu trúc PIES). Allan & Barbara Pease, Morten
Hương (2007), Đặng Thị Lan • Việt Nam: Nguyễn Ngọc Bảo & Hansen.
(2007, 2015), Đỗ Văn Đoạt & Trần Kiều, Trần Thị Thu • Việt Nam: Vũ Dũng (1993),
Nguyễn Thị Bích Liên (2017), Mai, Trần Duy Hưng, Ngô Thu Nguyễn Đức Sơn (2009),
Nguyễn Thị Nhất, Nguyễn Khắc Dung, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Lê Phạm Hoài Hương (2009),
Viện, Nguyễn Văn Lũy (2001), Hữu Châu, Đặng Thành Hưng Phan Thị Hồng Hà (2017),
Vũ Ngọc Hà (2009), Nguyễn (2002), Thái Duy Tuyên, Phan Thị Tâm (2017).
Thị Vui. Nguyễn Thành Kỉnh (2010),
Trương Thị Thu Yến (2012),
Nguyễn Thị Quỳnh Phương,
Nguyễn Thị Thúy Hạnh,
Nguyễn Thị Thanh.
1. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong học tập
- Nghiên cứu quốc tế: Bianka Zazzo nghiên cứu sự chuyển dạng hoạt động chủ đạo từ mẫu giáo lên lớp 1; A. Petropxki phân chia 3 loại khó khăn khi vào lớp 1 (chế độ học tập mới, quan hệ giao tiếp mới, thích nghi hoạt động); Ballard và Clanchy (1985) chỉ ra rào cản thích ứng phương pháp và văn hóa học thuật của sinh viên châu Á tại Úc; Ronald Gross (1999, Học tập đỉnh cao) phân tích 6 nỗi sợ nhận thức và 3 vùng học tập (quá sức, sảng khoái, ăn không ngồi rồi); Bob Smale và Julie Fowlie (2009) đề cập sốc văn hóa và căng thẳng nhận thức của sinh viên đại học; Murray Evely và Zoe Ganim (2011) tiếp cận khó khăn học tập ngôn ngữ và tính toán ở trẻ em dưới góc độ khiếm khuyết sinh học.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Xuân Thức và Đào Thị Lan Hương (2007) khảo sát sinh viên năm thứ nhất sư phạm, ghi nhận khó khăn ở mức trung bình và sinh viên ngành tự nhiên gặp nhiều khó khăn hơn ngành xã hội; Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) khảo sát 315 sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân; Đặng Thị Lan (2007, 2015) nghiên cứu KKTL trong học ngoại ngữ của sinh viên năm nhất và sinh viên dân tộc thiểu số; Đỗ Văn Đoạt và Nguyễn Thị Bích Liên (2017) khảo sát khó khăn học tín chỉ và chiến lược ứng phó của sinh viên sư phạm; Nguyễn Thị Nhất, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Lũy (2001), Vũ Ngọc Hà (2009), Nguyễn Thị Vui khảo sát KKTL ở học sinh tiểu học và học sinh dân tộc thiểu số.
2. Các nghiên cứu về thảo luận nhóm và học tập nhóm
- Nghiên cứu quốc tế: Mô hình kim tự tháp học tập của Viện NTL (Mỹ) xác định thảo luận nhóm đạt mức độ tiếp thu 50%; Ủy ban Đào tạo và phát triển giáo dục Mỹ xác định làm việc nhóm là kỹ năng số 13 quan trọng nhất; Allport, Watson, Shaw, Mead (1937–1940) và May, Doob so sánh hiệu suất nhóm và cá nhân; John Dewey, Kurt Lewin, Morton Deutsch khẳng định vai trò của tranh luận nhóm; Bruce Tuckman (1965) đề xuất mô hình 5 giai đoạn phát triển nhóm (Hình thành, Bão tố, Chuẩn hóa, Thi hành, Kết thúc); David và Roger Johnson (1990–2001) xây dựng 5 yếu tố cốt lõi của học tập hợp tác và 3 dạng phụ thuộc xã hội (hợp tác, cạnh tranh, cá nhân); Larry Michaelsen phát triển mô hình Team-Based Learning (TBL) với hai quy trình IRAT và TRAT/IF-AT; Rachel E. Colyer và Jason Manning (2016) nghiên cứu trách nhiệm cá nhân qua 211 đánh giá nhóm; Parto S. Khansari và Leanne Coyne khảo sát kiểm tra theo nhóm; Spencer Kagan đưa ra các cấu trúc dạy học nhóm tuân thủ nguyên tắc PIES (Positive interdependence, Individual accountability, Equal participation, Simultaneous interaction).
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiều, Trần Thị Thu Mai, Trần Duy Hưng, Ngô Thu Dung chia sẻ phương pháp tổ chức dạy học nhóm; Phạm Minh Hạc khẳng định chuyển đổi giáo dục cưỡng bức sang hợp tác bậc cao; Nguyễn Hữu Châu, Đặng Thành Hưng (2002), Thái Duy Tuyên phân tích quy trình và kỹ thuật học nhóm; các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thành Kỉnh (2010), Trương Thị Thu Yến (2012), Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Thị Thanh (hệ thống 23 kỹ năng chia thành 4 nhóm) tập trung vào rèn luyện và phát triển kỹ năng học tập hợp tác.
3. Các nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong quá trình làm việc nhóm, học tập nhóm
- Nghiên cứu quốc tế: Tolessa Muleta Daba, Sorale Jilo Ejersa và Sultan Aliyi (2015) nghiên cứu sinh viên Đại học Bule Hora; Jelena Stepanova khảo sát học nhóm môn Tiếng Anh thương mại; Jacqui Campbell và Mingsheng Li phân tích rào cản ngôn ngữ của sinh viên châu Á; Päivi Kinnunen và Lauri Malmi (2004) chỉ ra các khó khăn về vắng mặt, thiếu chuẩn bị bài và thiếu quy tắc làm việc; Brookfield, Preskill và Bass (1999) nêu 5 khó khăn khi tổ chức thảo luận nhóm; John C. Maxwell (2001, 17 nguyên tắc vàng trong làm việc nhóm) chỉ rõ các bất cập về nhận thức, thái độ và vị trí nhân sự; Sean Covey (1989, 2006) đề cập sự thiếu hụt tinh thần hợp tác ở giới trẻ; Blair Singer (2004), Tony Buzan (2002, mô hình giải pháp TEFCAS), Allan và Barbara Pease (hiệu ứng hình phễu về vị trí ngồi), Morten Hansen (giải pháp khắc phục sự thiếu hợp tác).
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Vũ Dũng (1993) nghiên cứu tính tương hợp tâm lý trong ê-kíp lãnh đạo; Nguyễn Đức Sơn (2009) khảo sát sự cố kết nhóm trong nhóm nhỏ sinh viên; Lê Phạm Hoài Hương (2009) sử dụng phương pháp sổ nhật ký để tìm hiểu khó khăn trong học nhóm môn Tiếng Anh tại Đại học Huế; Phan Thị Hồng Hà (2017) khảo sát nguyên nhân làm việc nhóm kém hiệu quả tại Đại học Đồng Nai; Phan Thị Tâm (2017) nghiên cứu kỹ năng ứng phó với KKTL trong học tín chỉ của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát kỹ năng hợp tác nhóm một cách độc lập hoặc tiếp cận KKTL học tập nói chung mà chưa phân tích có hệ thống cấu trúc KKTL trong HTN theo phương thức đào tạo tín chỉ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: xác định cụ thể các biểu hiện KKTL của SVSP ở 3 mặt (nhận thức, thái độ, hành vi) qua từng giai đoạn vận hành nhóm (thành lập nhóm, nhận và phân công nhiệm vụ, thảo luận nhóm, thảo luận trên lớp), lượng hóa mức độ khó khăn và đo lường sự tương quan với các yếu tố chủ quan, khách quan, đồng thời kiểm chứng thực nghiệm giải pháp khắc phục.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Nguyên tắc phương pháp luận: Luận án vận dụng 4 nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Xem xét KKTL trong mối quan hệ đa chiều giữa các thành phần biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng chủ quan, khách quan.
- Nguyên tắc tiếp cận chuyên ngành: Kết hợp kiến thức tâm lý học đại cương, tâm lý học dạy học và tâm lý học nhóm.
- Nguyên tắc hoạt động: Đo lường và đánh giá các thuộc tính tâm lý thông qua chính diễn biến hoạt động HTN thực tế của sinh viên.
- Nguyên tắc phát triển: Xem xét KKTL trong trạng thái vận động, biến đổi theo thời gian đào tạo và qua tác động thực nghiệm sư phạm.
- Hệ thống khái niệm công cụ:
- Khó khăn: Là những trở ngại nảy sinh trong quá trình con người thực hiện một hoạt động nào đó.
- Khó khăn tâm lý: Là sự thiếu hụt, hạn chế trong nhận thức, thái độ và hành vi làm cá nhân gặp nhiều trở ngại khi thực hiện một hoạt động nào đó.
- Học tập nhóm: Là hình thức hoạt động học tập theo nhóm mà người học có trách nhiệm tự học tập, chia sẻ và giúp đỡ các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ học tập chung của nhóm.
- Học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm: Là hình thức hoạt động học tập theo nhóm mà người học có trách nhiệm tự học tập, chia sẻ và giúp đỡ các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ học tập chung của nhóm, nhằm mục đích tích lũy đủ số tín chỉ học tập của một học phần.
- So sánh học tập theo niên chế và học chế tín chỉ (khung phân tích hoạt động HTN):
| Tiêu chí |
Học tập theo niên chế |
Học tập theo tín chỉ |
| Yếu tố tự học |
Khuyến khích sinh viên tự học nhưng không bắt buộc số giờ tự học trong chương trình. |
Số giờ tự học là bắt buộc đối với sinh viên ở mỗi học phần; sinh viên phải chủ động tự học để đáp ứng việc tích lũy tín chỉ (1 tín chỉ lý thuyết cần ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân). |
| Đặc điểm lớp học |
Lớp học đồng nhất, các sinh viên học cùng chuyên ngành, cùng chuyên môn đào tạo. |
Xuất hiện các lớp học không đồng nhất, sinh viên đến từ nhiều chuyên ngành, khoa đào tạo khác nhau. |
| Hình thức tổ chức |
Chủ yếu diễn ra trong không gian lớp học truyền thống. |
Hoạt động học diễn ra cả trong và ngoài lớp học, đặc biệt là hoạt động HTN và tự học theo nhóm. |
| Phương pháp dạy học |
Thuyết trình là phương pháp chủ yếu của giảng viên. |
Ngoài thuyết trình, bắt buộc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó HTN là phương pháp trọng tâm. |
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp đồng bộ hệ thống 7 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Phân tích, tổng hợp các văn bản lý luận, quy chế đào tạo tín chỉ và công trình nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế thang đo khảo sát trên diện rộng đối với sinh viên sư phạm và giảng viên.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi trực tiếp các buổi làm việc nhóm ngoài giờ và các tiết thảo luận trên lớp của sinh viên.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập ý kiến chi tiết từ giảng viên và sinh viên nhằm giải thích sâu các hiện tượng tâm lý.
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm tác động nhằm kiểm chứng biện pháp giảm thiểu KKTL cho sinh viên.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà tâm lý học, giáo dục học về khung lý luận, tiêu chí và thang đánh giá.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu thực nghiệm và điều tra (tính điểm trung bình - ĐTB, độ lệch chuẩn - ĐLC, kiểm định tương quan và so sánh sai biệt).
3. Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Khách thể khảo sát thực trạng: 540 sinh viên chính quy và 18 cán bộ giảng viên thuộc 3 trường: Trường ĐHSP Hà Nội, Trường ĐH Thủ đô Hà Nội, Trường ĐHSP Hà Nội 2.
- Khách thể thực nghiệm: Nhóm sinh viên sư phạm được tổ chức thực nghiệm tác động và đo nghiệm đối chứng trước - sau thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo 3 tuyến nội dung: các nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập; các nghiên cứu về bản chất, cấu trúc và quy trình của thảo luận nhóm và HTN; các nghiên cứu về các rào cản tâm lý nảy sinh trong làm việc nhóm.
Tác giả rút ra nhận định: Các tác giả quốc tế (như Tuckman, Johnson & Johnson, Michaelsen, Kagan, Maxwell) đã làm rõ quy trình và các nguyên tắc vận hành nhóm, trong khi các tác giả trong nước (Đặng Thành Hưng, Nguyễn Thị Thanh, Phan Thị Tâm...) chủ yếu tập trung vào kỹ năng học tập hợp tác hoặc kỹ năng ứng phó chung. Luận án khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên biệt về KKTL trong HTN của SVSP theo học chế tín chỉ, làm rõ các biểu hiện theo 3 thành phần tâm lý (nhận thức, thái độ, hành vi) qua từng giai đoạn cụ thể.
Chương 2: Lí luận về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm
Chương 2 thiết lập khung lý luận nền tảng cho đề tài. Tác giả phân tích bản chất của khó khăn và khó khăn tâm lý, đối sánh phương thức đào tạo niên chế và tín chỉ, từ đó xác lập định nghĩa chuyên biệt về KKTL trong HTN theo tín chỉ của SVSP.
CẤU TRÚC LÝ LUẬN VỀ KKTL TRONG HTN
[3 MẶT BIỂU HIỆN TÂM LÝ] [4 GIAI ĐOẠN HỌC TẬP NHÓM]
• Nhận thức (hiểu mục tiêu, nhiệm vụ, quy trình) 1. Giai đoạn thành lập nhóm
• Thái độ (hứng thú, trách nhiệm, mức độ sẵn sàng) 2. Giai đoạn nhận và phân công nhiệm vụ
• Hành vi (kỹ năng tương tác, phân chia công việc, tranh luận) 3. Giai đoạn thảo luận nhóm (ngoài giờ)
4. Giai đoạn thảo luận trên lớp
Luận án phân tích cấu trúc quy trình HTN dựa trên việc tổng thuật các mô hình của Biền Văn Minh (4 bước), Ninh Thị Bạch Diệp (3 giai đoạn), Nguyễn Thị Kim Dung (3 giai đoạn, 11 bước), Ngô Công Hoàn & Nguyễn Đình Xuân (3 bước) và Nguyễn Thanh Hải (4 bước: Thành lập nhóm; Xây dựng mục tiêu; Xây dựng dự án học tập; Họp nhóm và giải quyết vấn đề). Đồng thời, chương này chỉ ra các đặc điểm tâm lý đặc thù của SVSP và xác định 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng:
- Yếu tố chủ quan: Động cơ HTN, tính tích cực HTN, kỹ năng HTN của sinh viên.
- Yếu tố khách quan: Năng lực tổ chức/hướng dẫn của giảng viên, vai trò điều hành của nhóm trưởng, đặc điểm quy mô và cơ cấu của lớp học tín chỉ.
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết tiến trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn (chuẩn bị, khảo sát thực trạng, xử lý số liệu, tổ chức thực nghiệm sư phạm) và hệ thống hóa các công cụ đo lường:
- Khách thể: Mô tả cơ cấu mẫu gồm 540 sinh viên và 18 giảng viên tại ĐHSP Hà Nội, ĐH Thủ đô Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2.
- Tiêu chí và thang đánh giá: Thiết lập thang đo mức độ biểu hiện KKTL của SVSP theo thang điểm định lượng, phân loại mức độ khó khăn (từ không khó khăn, ít khó khăn, có khó khăn đến rất khó khăn).
- Quy trình xử lý dữ liệu: Mô tả các công thức tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), các hệ số tương quan giữa các thành phần biểu hiện (Biểu đồ 4.1, 4.2, 4.3) và sự phân bố điểm số KKTL (Biểu đồ 3.1).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm
Chương 4 tập trung phân tích khối dữ liệu thực nghiệm và khảo sát thực tế qua hệ thống các bảng số liệu:
- Thực trạng mức độ biểu hiện KKTL: Khảo sát tổng hợp cho thấy KKTL trong HTN của SVSP ở mức "có khó khăn". Xét theo 3 mặt biểu hiện tâm lý, SVSP gặp khó khăn nhiều nhất ở mặt hành vi, tiếp đến là mặt nhận thức, và ít khó khăn nhất ở mặt thái độ (Bảng 4.1).
- Biểu hiện KKTL qua 4 giai đoạn HTN:
- Giai đoạn thành lập nhóm: Là giai đoạn SVSP gặp nhiều KKTL nhất (Bảng 4.2, 4.3, 4.7, 4.11).
- Giai đoạn nhận nhiệm vụ và phân công nhiệm vụ: Thể hiện khó khăn trong việc phân chia khối lượng công việc công bằng, phù hợp năng lực (Bảng 4.4, 4.8, 4.12).
- Giai đoạn thảo luận nhóm (tự học ngoài giờ): Gặp trở ngại về kỹ năng trao đổi, lắng nghe và giải quyết bất đồng quan điểm (Bảng 4.5, 4.9, 4.13).
- Giai đoạn thảo luận trên lớp: Là giai đoạn SVSP ít gặp KKTL nhất so với các giai đoạn khác (Bảng 4.6, 4.10, 4.14).
- So sánh KKTL theo các tiêu chí khách thể:
- Theo trường đào tạo: Phân tích sự khác biệt về mức độ và các mặt biểu hiện KKTL giữa SVSP thuộc ĐHTĐ HN, ĐHSP HN và ĐHSP HN 2 (Bảng 4.15, 4.16).
- Theo năm học (niên khóa): Đánh giá sự biến thiên mức độ KKTL từ sinh viên năm thứ nhất đến các năm cuối (Bảng 4.17, 4.18).
- Theo học lực: So sánh mức độ khó khăn ở các nhóm sinh viên có kết quả học tập giỏi, khá, trung bình (Bảng 4.19, 4.20).
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá định lượng tác động của các yếu tố chủ quan (động cơ HTN - Bảng 4.21; tính tích cực HTN - Bảng 4.22; kỹ năng HTN - Bảng 4.23) và các yếu tố khách quan (vai trò của giảng viên - Bảng 4.24; năng lực của nhóm trưởng - Bảng 4.25; đặc điểm quy mô lớp học tín chỉ - Bảng 4.26, 4.27).
- Kết quả thực nghiệm sư phạm: Đo nghiệm và so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm tác động trên nhóm thực nghiệm (Bảng 4.28), chứng minh mức độ KKTL trong HTN của SVSP giảm rõ rệt sau khi được can thiệp bồi dưỡng biện pháp tổ chức và rèn luyện kỹ năng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng và hệ thống hóa tương đối hoàn chỉnh khung lý luận về khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm.
- Xác lập định nghĩa thao tác chuẩn xác về khái niệm "Khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm".
- Chỉ rõ cấu trúc biểu hiện KKTL ở 3 mặt (nhận thức, thái độ, hành vi) tương ứng với từng giai đoạn cụ thể của quy trình HTN trong môi trường đào tạo tín chỉ, đóng góp tư liệu cho chuyên ngành Tâm lý học dạy học và Tâm lý học sư phạm đại học.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về biểu hiện và mức độ KKTL của SVSP: mức độ chung ở mức "có khó khăn", trong đó khó khăn hành vi chiếm vị trí cao nhất, khó khăn thái độ thấp nhất; giai đoạn thành lập nhóm gặp khó khăn lớn nhất và giai đoạn thảo luận trên lớp ít khó khăn nhất.
- Phân tích rõ nét sự khác biệt về KKTL theo các biến số: trường đào tạo, năm học và học lực của sinh viên.
- Định lượng mức độ tác động của các yếu tố chủ quan (động cơ, tính tích cực, kỹ năng) và khách quan (giảng viên, nhóm trưởng, đặc điểm lớp học).
- Chứng minh tính khả thi của chương trình can thiệp thực nghiệm sư phạm, tạo cơ sở thực tiễn để các trường đại học xây dựng chương trình tập huấn khắc phục KKTL cho sinh viên.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các trường Đại học Sư phạm và các khoa đào tạo giáo viên: Cần đổi mới công tác quản lý đào tạo tín chỉ, thiết kế thời khóa biểu và không gian tự học nhóm hợp lý; tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc nhóm định kỳ cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất.
- Đối với giảng viên: Cần nâng cao năng lực chỉ đạo, hướng dẫn quy trình HTN; xây dựng tiêu chí giao nhiệm vụ và đánh giá kết quả nhóm rõ ràng, minh bạch; thường xuyên theo dõi, hỗ trợ tháo gỡ các vướng mắc tâm lý cho các nhóm trong quá trình tự học.
- Đối với sinh viên sư phạm: Cần chủ động nâng cao nhận thức về phương thức đào tạo tín chỉ, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, phân công công việc và phát huy tính tự giác, trách nhiệm cá nhân trong nhóm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi khách thể khảo sát thực trạng giới hạn trong phạm vi 540 sinh viên và 18 cán bộ giảng viên tại 3 trường đại học sư phạm thuộc khu vực Hà Nội và lân cận (ĐHSP Hà Nội, ĐH Thủ đô Hà Nội, ĐHSP Hà Nội 2), chưa mở rộng khảo sát ở các trường sư phạm thuộc các vùng miền khác trên toàn quốc.
- Nội dung nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào hoạt động HTN theo tín chỉ, chưa bao quát toàn bộ các hoạt động học tập khác theo học chế tín chỉ (như tự học độc lập, nghiên cứu thực tế).
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được luận án gợi mở
- Nghiên cứu sâu về khó khăn tâm lý trong HTN của nhóm đối tượng sinh viên giữ vai trò nhóm trưởng.
- Nghiên cứu kỹ năng xây dựng và vận hành nhóm học tập của sinh viên đại học.
- Nghiên cứu sự phát triển tư duy phê phán của sinh viên trong quá trình HTN.
- Nghiên cứu động cơ học tập nhóm và các chiến lược duy trì động lực HTN của sinh viên theo học chế tín chỉ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng:
- Đối với cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên đại học sư phạm:
- Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế, điều chỉnh quy trình tổ chức dạy học nhóm và phương pháp đánh giá kết quả học phần theo tín chỉ.
- Phần đáng tham khảo: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng từ giảng viên, nhóm trưởng và đặc điểm lớp học (Chương 2, Chương 4) cùng các kiến nghị quản lý đào tạo (Phần Kết luận và Kiến nghị).
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học:
- Tham khảo hệ thống thao tác hóa khái niệm, cấu trúc bảng hỏi, thang đo mức độ biểu hiện KKTL theo 3 mặt (nhận thức, thái độ, hành vi) và 4 giai đoạn HTN.
- Phần đáng tham khảo: Tổng quan tài liệu lịch sử nghiên cứu (Chương 1), phương pháp luận và thiết kế công cụ đo lường thống kê (Chương 3), mô hình thực nghiệm tác động (Chương 4).
- Đối với sinh viên các trường đại học nói chung:
- Giúp sinh viên nhận diện các rào cản tâm lý của bản thân trong quá trình cộng tác nhóm, từ đó chủ động điều chỉnh thái độ, hành vi và phương pháp tự học theo nhóm.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm" như thế nào?
Theo luận án, khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm là sự thiếu hụt, hạn chế trong nhận thức, thái độ và hành vi làm cho sinh viên gặp nhiều trở ngại khi thực hiện hình thức hoạt động học tập theo nhóm (chia sẻ, giúp đỡ các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ học tập chung) nhằm mục đích tích lũy đủ số tín chỉ học tập của một học phần.
2. Khó khăn tâm lý của sinh viên sư phạm được khảo sát qua những mặt biểu hiện và giai đoạn nào?
Luận án xem xét KKTL qua sự kết hợp giữa hai trục phân tích:
- 3 mặt biểu hiện tâm lý: Nhận thức, Thái độ và Hành vi.
- 4 giai đoạn của quy trình HTN: (1) Giai đoạn thành lập nhóm học tập; (2) Giai đoạn nhận nhiệm vụ và phân công nhiệm vụ; (3) Giai đoạn thảo luận nhóm (tự học ngoài giờ lên lớp); (4) Giai đoạn thảo luận nhóm trên lớp.
3. Khách thể khảo sát thực trạng và địa bàn nghiên cứu của đề tài gồm những cơ sở nào?
Khách thể nghiên cứu thực trạng gồm 540 sinh viên sư phạm chính quy và 18 cán bộ giảng viên, được tiến hành khảo sát tại 3 trường đại học đào tạo giáo viên: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN), Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (ĐHTĐ HN) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (ĐHSP HN 2).
4. Kết quả nghiên cứu thực trạng chỉ ra sinh viên sư phạm gặp khó khăn nhiều nhất và ít nhất ở những khía cạnh nào?
- Theo mặt biểu hiện tâm lý: Sinh viên sư phạm gặp khó khăn nhiều nhất ở mặt hành vi và ít khó khăn nhất ở mặt thái độ.
- Theo giai đoạn HTN: Sinh viên gặp khó khăn tâm lý nhiều nhất ở giai đoạn thành lập nhóm học tập và ít gặp khó khăn nhất ở giai đoạn thảo luận trên lớp.
5. Những yếu tố nào được xác định có ảnh hưởng đến khó khăn tâm lý trong học tập nhóm của sinh viên sư phạm?
Luận án xác định và đo lường hai nhóm yếu tố ảnh hưởng:
- Yếu tố chủ quan: Động cơ học tập nhóm, tính tích cực học tập nhóm, và kỹ năng học tập nhóm của sinh viên.
- Yếu tố khách quan: Năng lực tổ chức, hướng dẫn của giảng viên; vai trò điều hành của nhóm trưởng; và các đặc điểm của lớp học tín chỉ (quy mô, tính không đồng nhất về chuyên ngành).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Minh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng khó khăn tâm lý trong học tập nhóm theo học chế tín chỉ của 540 sinh viên sư phạm tại 3 trường đại học sư phạm. Kết quả nghiên cứu khẳng định sinh viên sư phạm gặp khó khăn tâm lý ở mức "có khó khăn", biểu hiện rõ nét nhất ở mặt hành vi và trong giai đoạn thành lập nhóm học tập, chịu sự chi phối đồng thời của các yếu tố chủ quan (động cơ, kỹ năng) và khách quan (giảng viên, nhóm trưởng, đặc điểm lớp học). Biện pháp thực nghiệm sư phạm được tiến hành đã chứng minh tính hiệu quả trong việc giảm thiểu khó khăn tâm lý, cung cấp căn cứ khoa học xác đáng cho việc đổi mới phương pháp dạy học và quản lý đào tạo theo tín chỉ ở các cơ sở giáo dục đại học.