Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SU UNG PHO VA CAC VAN DE HƯỚNG NOI CUA SINH VIEN Y KHOA 1. Tổng quan van đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về các van đề hướng nội 1. Các nghiên cứu về thực trạng các vẫn đề hướng nội trên thế giới Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu con người càng tăng cao kéo theo đó là áp lực cuộc sống cũng ngày một nhiều lên.
Do đó, các vấn đề sức khỏe tâm than, đặc biệt là các vấn dé hướng nội bao gồm: căng thang (stress), lo âu, trầm cảm dan trở nên phô biến trong cộng đồng và là van dé được xã hội và các nhà nghiên cứu rất quan tâm, chú trọng bởi những hệ lụy của nó dé lại cho con người. Thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2017, trầm cảm đang là một trong những van dé hướng nội thường gặp nhất trên thế giới và là nguyên nhân hàng dau gây ra tình trạng khuyết tật. Ước tính có khoảng 350 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm trên toàn cầu (trong đó độ tuôi thanh thiếu niên chiếm 40%). Trong số những người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm, chỉ có khoảng 25% là tham gia điều trị [115].
Hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm chính là hành vi tự sát [54]. Mỗi năm, toàn thế giới có khoảng 850.000 người chết vì căn bệnh tram cảm [115]. Trầm cảm cũng là một trong những vấn đề tâm lý nghiêm trọng và đáng được lưu ý của sinh viên y khoa hiện nay. Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng: Tỷ lệ sinh viên y khoa bị trầm cảm cao đáng kinh ngạc, chiếm khoảng 10% tỷ lệ trầm cảm của dân số nói chung [25], và điều đáng lo ngại là sinh viên y khoa không được giúp đỡ khi họ cần [65].
Ty lệ sinh viên trầm cảm có sự chênh lệch về giới, nữ sinh viên y khoa có tỷ lệ mắc trầm cảm nhiều hơn so với nam sinh viên y khoa [26]. Ngoài ra, cũng có sự khác biệt về tỷ lệ trầm cảm dựa trên sắc tộc, trong đó sinh viên y khoa người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ trầm cảm cao nhất [53]. Ngoài tram cảm, các rối loạn sức khỏe tâm thần khác cũng phổ biến trong cộng đồng sinh viên y khoa. Một nghiên cứu được thực hiện tại một trường y ở Iran cho thay 4,5% sinh viên y khoa của họ bị rối loạn lưỡng cực [100].
Tỷ lệ mắc các van đề hướng nội stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên y khoa 6 Iran cao hơn nhiều so với dân số Iran nói chung [84]. Nghiên cứu khác về thực trạng các vấn đề sức khỏe tâm thần tại Malaysia năm 2013 trên nhóm sinh viên y khoa cho kết quả khoảng 23,7% sinh viên có biéu hiện stress vừa va nặng, 63% sinh viên có biểu hiện của lo âu ở mức vừa, nặng va rất nặng, 39,2% sinh viên có biểu hiện của tram cảm ở mức vừa, nặng và rất nặng [95]. Trong một cuộc khảo sát với 133 sinh viên y khoa Hoa Kỳ, kết quả thi nhận được cho thấy răng 44% SV đã hút thuốc lá, 96% SV đã uống rượu, 57% sv đã sử dụng cần sa, 22% SV đã sử dụng amphetamine, 20% SV đã sử dụng cocaine, 17% SV đã sử dụng thuốc benzodiazepines, 15% SV đã sử dụng chất gây ảo giác và 40% SV đã sử dụng opioid tại ít nhất 1 lần trong thời gian học tại trường y. Sinh viên có triệu chứng trầm cảm có nguy cơ sử dụng chất kích thích cao nhất [110].
Nghiên cứu tương tự được khảo sát trên sinh viên năm thứ tư tại 13 trường y ở Mỹ, cho thấy 87% SV đã uống rượu, 17,3% SV đã sử dụng cần sa, 9% SV đã hút thuốc lá, 0,9% SV đã sử dung opioid và 1,2% SV dùng amphetamine trong khoảng thời gian 30 ngày trước khảo sát [79]. Một thống kê được đăng trên JAMA 2016 cho thấy, trung bình 11,2% sinh viên y khoa có ý tưởng tự tử [91]. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh tâm thần và tự tử cao đáng kinh ngạc ở các sinh viên y khoa, nhưng họ hiếm khi quan tâm đến việc chăm sóc cho sức khỏe tâm than của họ, và rat ít sinh viên y khoa lựa chọn tìm kiếm trợ giúp tâm lý khi gặp phải các van đề về sức khỏe tâm thần. Lý do mà được sinh viên đưa ra trong một cuộc khảo sát năm 2013 là: hạn chê vê thời gian, thiếu đối tác tin tưởng, vấn đề bảo mật và sự kỳ thị khi vấn đề sức khỏe của ban thân được cho là những rào can đáng ké đối với các sinh viên y khoa được chăm sóc cho các van đề về thé chất và tinh thần của ho [52].
Lý do tương tự cũng được sinh viên y khoa lựa chon trong khảo sát được thực hiện tại trường y khoa ở Ấn Độ [80], và ở Úc [93]. Các nghiên cứu về thực trạng các van đề hướng nội tại Việt Nam Sinh viên y khoa ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều thử thách trong học tập như: khối lượng tri thức lớn, phương pháp học tập mới, tìm kiếm và xử lý tài liệu học tập, sắp xếp thời gian giữa học tập và đi thực tập tại bệnh viện nên nguy cơ gặp phải các vẫn đề về sức khỏe tâm thần như: stress, lo âu, trầm cảm là rất cao. Nghiên cứu về thực trạng trầm cảm của sinh viên y khoa được thực hiện trên 492 sinh viên năm 2 hệ bác sỹ (ĐK, YHCT, RHM) tại ĐH Y Hà Nội năm 2016-2017, cho thay tỷ lệ tram cảm chung là 28,46%; trong đó tỷ lệ sinh viên bị tram cảm nhẹ là 20,12%, tram cảm vừa và nặng lần lượt là 4,88% và 3,46% [21]. Trong một nghiên cứu năm 2018 - 2019 tiến hành khảo sát trên 1723 sinh viên năm đầu và năm cuối Đại học Y Hà Nội, cho thấy tỷ lệ rỗi loạn lo âu của sinh viên là 9,8% (95% CI: 8,4 — 11,4.
Các yếu tố có liên quan đến biểu hiện lo âu của sinh viên bao gom: ganh nang tai chinh, ap luc hoc tap/thi cu, hoat dong thé chat, có sử dung chat kich thich [20]. Nghiên cứu dé cập đến cả 3 dạng rối loạn: stress, lo âu tram cảm phải kế đến nghiên cứu của của tác giả Trần Kim Trang. Nghiên cứu thực hiện tại trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt, sử dụng thang đánh giá DASS -21. Kết qua: Tỷ lệ sinh viên bị stress là 71,4%, trầm cảm là 28,8% và lo âu là 22,4%, hầu hết là các roi loạn ở mức độ vừa và nhẹ.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chi ra có tới 52,8% sinh viên nghiên cứu có đồng thời cả 3 dang rối loạn [22]. Một nghiên cứu tại trường ĐH Y dược thành phố Hồ Chi Minh, tiến hành tìm hiểu về các van đề hướng nội sinh viên y khoa, kết quả: tỷ lệ sinh viên có biểu hiện lo âu mức độ rất nặng là 11%, trong đó nữ sinh viên chiếm 7% và nam sinh viên là 4%. Tỷ lệ sinh viên có các vấn đề hướng nội lo âu, stress, trầm cảm biểu hiện ở mức độ nặng lần lượt là 12%, 5%, 2% [8]. Một nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng stress, lo âu tram cảm của sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt ĐH Y dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả thu được: Ty lệ biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa. 52,8% sinh viên có cùng 3 dang rối loạn trên. Kết qua mô hình hồi quy đa biến cho thấy không khác biệt giữa các mức độ stress, lo âu, trầm cảm theo ngu6n cư trú và giới tính. Mặc dù vậy, đối với rối loạn tram cảm, khi tiễn hành so sánh về mức độ, tỷ lệ nam sinh viên có rối loạn nặng cao hơn hăn nữ sinh viên [22].
Nghiên cứu về ứng phó 1. Các nghiên cứu về ứng phó trên thế giới a. Các hướng nghiên cứu về ứng phó Nghiên cứu về ứng phó được các tác giả trên thế giới quan tâm từ rất sớm: Khái niệm về ứng phó lần đầu tiên được Lazarus đề cập trong đề tài của mình vào năm 1966 [71]. Trong nhiều dé tai sau đó ông cing cộng sự của mình đã phát triển và hoàn thiện khái niệm này [70],[72].
Đặc biệt, nghiên cứu năm 1984 của Lazarus và Folkman được cho là đã đưa ra lý thuyết ứng phó hoan thiện nhất và được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu sau này về ứng phó [73]. Sau giai đoạn này, các chủ dé nghiên cứu liên quan đến ứng phó nói chung và khó khăn tâm lý nói riêng, đặc biệt là ứng phó với các cảm xúc tiêu cực trên quan điểm đào sâu các khía cạnh lý luận và thực tiễn ngày cảng phổ biến trên toàn thế giới và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Dé phân loại ứng phó lại có những quan điểm rất khác nhau giữa các tác giả, điển hình như: Nghiên cứu của Ferguson và Cox (1991) đề cập đến có ba hướng ứng phó chính khi gặp các van đề hướng nội đó là: Hướng thứ nhất - Ứng phó định hướng vào nhiệm vụ (task - oriented) là nhằm thay đổi môi trường khách quan bên ngoai, thường bao gồm những hành động được lên kế hoạch. Hướng thứ hai - Ứng phó định hướng vào cảm xúc là chiến lược ứng phó trong đó con người cô găng thay đổi suy nghĩ cũng như cảm giác của mình về các sự kiện xảy ra, băng cách rút ra những kinh nghiệm hoặc các bài học qua tình huống, dựa trên các quan điểm về khía cạnh tích cực của vấn đề hoặc thê hiện những cảm xúc âm tính của mình.
Hướng thứ ba - Ứng phó lảng tránh, là cách thức ứng phó nhằm chạy trốn khỏi van đề. Chủ thé bằng cách che dấu suy nghĩ thực về van đề hoặc tập trung vào những hoạt động khác từ đó chủ động, tích cực thoát ra khỏi tình huống [44]. Đây là một trong những hướng phân loại khá hợp lý đồng thời cũng là hình thức phân loại được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ và sử dụng trong đánh giá. Trong nghiên cứu của minh, nhà nghiên cứu Williams va cộng sự lại chia ứng phó thành hai nhóm lớn căn cứ vào tính hiệu quả và ảnh hưởng của các cách ứng phó đối với con người gồm: Ứng phó hiệu quả (thích nghĩ) bao gồm các cách ứng phó như tìm kiếm lời khuyên và thông tin, nhận sự hỗ trợ từ người khác và suy nghĩ tìm giải pháp; Ứng phó không hiệu quả (không thích nghi) bao gồm những hành vi rút lui và lang tránh.