Mở đầu Trình bày tính câp thiệt của đê tài, ảnh hưởng của vân đê nghiên cứu đên bôi cảnh xã hội hiện nay. Từ đó, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Đồng thời trình bày bố cục tổng quát của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan Trình bay tông quan về các nghiên cứu liên quan dén dé tài trong nước và trên Thế Giới.
Giới thiệu về trường Đại học Nông Lâm TP. Đồng thời nêu một cách khái quát về lich sử hình thành, yếu tô về nhân sự, các ngành đào tao và những đóng góp của Khoa Kinh tế Trường Đại học Nông Lâm TP. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trình bày những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: Khái niệm, vai trò của việc học Tiếng Trung Quốc, thực trạng học và sử dụng tiếng Trung Quốc của nước ta và trên Thế Giới hiện nay.
Trình bày một số mô hình nghiên cứu tham khảo có liên quan đến dé tài khóa luận. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu. Cuối cùng là trình bay các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, quy trình nghiên cứu, thang đo và các giả thuyết nghiên cứu mà tác giả đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy, thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’Alpha, hệ số tương quan Pearson, phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis), hồi quy tuyến tính, kiểm định Independent Samples T- Test và ANOVA.
Từ đó, thảo luận về những vấn đề, số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời, đề ra hàm ý một số giải pháp nhằm nâng cao ý định học Tiếng Trung Quốc của sinh viên thuộc khoa Kinh Tế Trường Đại học Nông Lâm TP. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tổng hợp, đánh giá lại nội dung nghiên cứu; nêu ra những nhận xét từ kết quả nghiên cứu cũng như nói đến những hạn chế mà mô hình còn gặp phải, những khía cạnh mô hình chưa nghiên cứu đến dé làm dé tài cho các nghiên cứu trong tương lai. Đề ra một số kiến nghị nhằm nâng cao ý định học Tiếng Trung Quốc của sinh viên khoa Kinh Tế Trường Đại học Nông Lâm TP.
CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tong quan tài liệu nghiên cứu trong nước và trên Thế Giới 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu nước ngoài. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về việc học ngoại ngữ của sinh viên.
Điển hình như vào tháng 10/2019, Kofand Anwar va Raghda Louis đã thực hiện bài nghiên cứu “Các yêu tố ảnh hưởng đến sự lo lắng của học sinh trong việc học ngôn ngữ: Nghiên cứu về các trường đại học tư thục ở Kurdistan”. Mục đích chính của nghiên cứu nay là điều tra các yêu tố ảnh hưởng đến sự lo lắng của sinh viên trong việc học ngôn ngữ tại các trường đại học tư thục ở Erbil. Nhà nghiên cứu đã có thé thu thập 92 bảng câu hỏi đang được điền đúng cách và sử dụng SPSS phiên bản 23 qua các bước phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, và phân tích tương quan Pearson dé đo lường các giả thuyết nghiên cứu đã phát triển như đã đề cập trước đó. Kết quả cho thấy nỗi lo lắng nhất đối với sinh viên là sợ đánh giá tiêu cực, thứ 2 là nỗi sợ giao tiếp và cuối cùng là chứng lo âu thi cử.
Tháng 03/2022, Xiaohong Wen đã thực hiện bài nghiên cứu: “Động lực học tiếng Trung: một nghiên cứu về các tương tác theo ngữ cảnh cá nhân” nhằm điều tra động lực trong bối cảnh học tiếng Trung Quốc ở Mỹ tại Đại học Houston. Tổng cộng 120 sinh viên đại học đã tham gia cuộc khảo sát và 27 người trong số họ đã tham gia vào các cuộc phỏng vấn sau khảo sát. Sử dụng phần mềm SPSS qua các bước phân tích EFA và tương quan Pearson. Nghiên cứu đã nắm bắt được các tương tác giữa động lực và Hệ thống; 5 Môi trường học tiếng Trung trong quá trình học.
Kết quả cho thấy sáu động lực; sự chống đối lại bản thân; hướng dan bản thân trong tương lai; các yếu tố động lực, trong đó lý tưởng của bản thân là chiến lược tự điều chính mạnh mẽ nhất dự báo cho nỗ lực dự định, và tương quan đáng kê với mức độ tham gia hoạt động sau giờ học trong đó học sinh cam kết thời gian thực tế dé học. Ngoài ra, sự chống lại bản thân có tương quan đáng kể với tất cả các yếu tô động lực và cũng là một yếu tố dự báo đáng kể cho nỗ lực dự định. Nó hoạt động như một động lực nội tại với vai trò tác nhân tích cực của cá nhân người học. Cuối cùng, sự tương tác tích cực của người học với bối cảnh học tập thông qua các chiến lược tự điều chỉnh và kiến thức thủ tục đi kèm dẫn đến trải nghiệm tích cực, giúp học tập bền vững.
Tai Đại học Assumption của Thái Lan, Xin Zhai (2019) đã thực hiện bài nghiên cứu: “Học tiếng Trung như một ngôn ngữ thứ hai: Một cuộc điều tra về ý định của người Thái ở Bangkok đề học tiếng Trung” tại Bangkok. Một cuộc khảo sát ngẫu nhiên với 398 người Thái Lan đã được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.Sử dụng SPSS thông qua các bước phân tích hệ số Cronbach’s Alpha, EFA,h6i quy tuyến tính bội và phân tích ANOVA. Tác giả kết luận rằng giá trị và văn hóa là những yếu tố chính ảnh hưởng đền việc học tiêng Trung của người Thai. Lubei Zhang, Linda Tsung (2020), đã thực hiện nghiên cứu: “Học tiếng Trung như ngôn ngữ thứ hai ở Trung Quốc: Cảm xúc tích cực và niềm tin” Nghiên cứu này đã khảo sát mức độ thích học ngôn ngữ của những người học tiếng Trung như một ngôn ngữ thứ hai đang theo học tại các trường đại học Trung Quốc.
Một nhóm gồm 216 sinh viên quốc tế, chủ yếu đến từ Châu Phi và Châu Á đang theo học tại ba trường đại học ở Tứ Xuyên, Trung Quốc đã tham gia vào cuộc khảo sát bảng câu hỏi và 20 người trong số họ được mời tham gia các cuộc phỏng vấn tiếp theo. Dữ liệu thu thập chủ yếu được phân tích thông qua phần mềm SPSS 26. Bao gồm phân tích nhân tố khám phá (EFE), phân tích mô hình phương trình cấu trúc (SEM), Phân tích One-Way ANOVA. Kết quả cho thấy cảm giác thỏa mãn là sự thúc đây hiệu quả nhất cho niềm yêu thích học tập của ho.
Sự hoàn thành được phát hiện có tác động trực tiếp đáng kê đến sự thích thú khi học ngôn ngữ của người học, mối quan hệ giữa các cá nhân và mối quan hệ xã hội đóng vai trò gián tiếp. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước. Tại Trường Đại học Đồng Tháp, Nguyễn Hữu Thắng, Hồ Thị Khánh Linh (2022) đã thực hiện bài nghiên cứu “PHAN TÍCH CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN NHU CÂU HỌC TIENG TRUNG CUA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC DONG THAP” nhằm tìm hiểu nhu cau và các nhân tô ảnh hưởng đến nhu cau học tiếng Trung của sinh viên tại trường Đại học Đồng Tháp. Tác giá đã khảo sát 450 sinh viên có nhu cầu học tiếng Trung tại Đại học Đồng Tháp.
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS qua các bước phân tích Cronbach’s alpha, EFA và phân tích hồi quy bội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên có nhu cầu học Tiếng Trung khá cao, có 2 nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu này là (1) điều kiện tăng cấp độ tiếng Trung, (2) môi trường và tài liệu học tập. Trong đó, điều kiện tăng cấp độ tiếng Trung là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến nhu cầu học tiếng Trung của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp, Tại Trường Dai học Ngân Hàng Thành phó Hồ Chí Minh, Lưu Hớn Vũ (2020) đã thực hiện bài nghiên cứu “QUAN NIỆM HỌC TẬP NGOẠI NGU THU HAI - TIENG TRUNG QUỐC CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGAN HÀNG TP. HO CHÍ MINH” dé khảo sát quan niệm học tập ngoại ngữ thứ hai — tiếng Trung Quốc của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Ngân hàng TP.
Hồ Chí Minh. Trên cơ sở lí thuyết về quan niệm học tập của Horwitz (1985), tác gia tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với 177 sinh viên và sử dụng SPSS trong các thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tổng thể — trường hợp mẫu độc lập (Independent — samples T-test), phân tích phương sai một yếu tô (oneway ANOVA) va phân tích tương quan Pearson dé thực hiện phân tích. Kết qua cho thay quan niệm học tập của sinh viên như sau: thứ nhất, tiếng Trung Quốc tương đối dé hoc; thứ hai, trẻ em có năng lực học tập ngoại ngữ tốt hơn người lớn; thứ ba, chú trọng ngữ âm, từ vựng và văn hoá, không chú trọng ngữ pháp; thứ tư, học tiếng Trung Quốc có ích cho bản thân. 7 Sinh viên nữ chú trọng về ngữ âm hơn sinh viên nam.
Sinh viên năm thứ hai chú trọng về ngữ âm hơn sinh viên năm thứ ba, song lại không chú trọng về ngữ pháp như sinh viên năm thứ ba. Khác với sinh viên miễn trung, sinh viên miền bắc và miền nam cho rằng nên đến Trung Quốc học tiếng Trung Quốc. Quan niệm “tiếng Trung Quốc dé học”, thái độ tự tin và chủ động sử dụng tiếng Trung Quốc có ảnh hưởng tích cực đến kết quả học tập của sinh viên Tháng 03/2017, Lưu Hớn Vũ đã thực hiện bài nghiên cứu “ĐỘNG CƠ HỌC TẬP NGOẠI NGỮ THỨ HAI - TIENG TRUNG QUOC CUA SINH VIÊN NGANH NGÔN NGỮ ANH, TRƯỜNG DAI HỌC NGAN HANG TP. HO CHÍ MINH” dé khảo sát động cơ học tập ngoại ngữ thứ hai — tiếng Trung Quốc của sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh, Trường Đại học Ngân hàng TP.
Hồ Chí Minh.Tác giả đã khảo sát 89 sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba ngành Ngôn ngữ Anh tại Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (BUH).str dung SPSS trong các thống kê mô tả, kiểm định trị trung bình của mẫu phối hợp từng cặp (Paired samples T-test) và kiểm định giả thuyết về trị trung bình của hai tông thé — trường hợp mẫu độc lập (Independent samples T-test). Kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên có động cơ học tập tương đối tích cực. Trong ba phạm vi động cơ học tập, động cơ học tập cua sinh viên trên phạm vi môi trường học tập là cao nhất, kế đến là động cơ học tập trên phạm vi ngôn ngữ và trên phạm vi người học.