Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về chọn trường đại học Chọn trường đại học là một quá trình phức tạp, đa giai đoạn trong đó một cá nhân phát triển những nguyện vọng để tiếp tục giáo dục chính quy sau khi học trung học, tiếp theo sau đó bởi một quyết định theo học một trường đại học cụ thể, cao đẳng hoặc quá trình đào tạo của một tổ chức hướng nghiệp tiên tiến. Tại cuộc họp tại Lahabana (Cu Ba), trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 9 (Tháng 10/1980) những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau: Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường và tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước. Theo Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006) [4] thì: Hướng nghiệp: là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, từ đó giúp các em biết đến một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức các nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với năng lực của bản thân và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Hướng nghiệp là công tác hết sức quan trọng, thông qua hoạt động hướng nghiệp sẽ giúp các em hiểu về nghề, hiểu về chính bản thân mình để có thể lựa chọn cho mình một ngành nghề tương lai phù hợp với sở thích, năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu thực tế của xã hội. Do đó, hoạt động hướng nghiệp ngày càng được coi trọng. Hiện nay đã có nhiều hình thức hướng nghiệp cho học sinh, bước đầu mang lại hiệu quả cao, giúp học sinh giảm bớt được lo âu, căng thẳng khi chọn ngành học cho mình.
4 Tư vấn hướng nghiệp: là tư vấn về sự hỗ trợ khách quan và cả cách nỗ lực chủ quan trong quá trình hướng nghiệp. Nó có lợi cho người đang cần tư vấn hướng nghiệp và cũng lợi cho cả người cần dẫn dắt người khác hướng nghiệp. Như vậy, tư vấn hướng nghiệp là một quá trình hoạt động tích cực, tự giác của học sinh dưới sự hướng dẫn của nhà trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội để giúp học sinh tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp trong tương lai. Như vậy, một cách tổng quát có thể hiểu chọn trường của sinh viên là kết quả của sự lựa chọn các cơ sở giáo dục – đào tạo đáp ứng yêu cầu của người học thông qua tìm hiểu các nguồn thông tin khác nhau kể cả hoạt động tư vấn hướng nghiệp của nhà trường.
Tổng quan về quyết định lựa chọn trường đại học Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2005 “khách hàng là tổ chức hay cá nhân nhận một sản phẩm”. Theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ (khoản 7 và điều 9 chương II) định nghĩa “Nhà cung cấp dịch vụ là bất kỳ người cung cấp một dịch vụ nào; Người tiêu dùng dịch vụ là bất kỳ người nào tiếp nhận hay sử dụng một dịch vụ”. Các cá nhân, nhóm người tác động và ảnh hưởng đến các tổ chức để thực hiện mục tiêu của mình, được gọi là các bên liên quan [9]. Về cơ bản trường đại học vẫn mang đặc thù của một tổ chức phi lợi nhuận với nhiều đối tượng khách hàng đa dạng và phức tạp.
Trong lĩnh vực giáo dục đại học (GDĐH), các bên liên quan bao gồm: sinh viên (đang theo học, sinh viên đã tốt nghiệp) phụ huynh và gia đình, các tổ chức cộng đồng địa phương, xã hội, chính phủ, các cơ quan chủ quản, nhân viên, giới chức địa phương, những nhà tuyển dụng hiện tại và tiềm năng [21]. Sinh viên là người trực tiếp tiêu dùng dịch vụ GDĐH. Dưới góc độ trường đại học là tổ chức cung cấp dịch vụ, học sinh/sinh viên là khách hàng bên ngoài trực tiếp của cán bộ, nhân viên, giảng viên và Ban giám hiệu. Hill (1995) cũng cho rằng sinh viên (bao gồm cả sinh viên tiềm năng) là khách hàng chính và đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ GDĐH ở Anh.
Các vai trò khác nhau này có thể thay đổi theo từng tình huống: đôi khi là sản phẩm của quá trình đào tạo, 5 là lực lượng tham gia vào quá trình học, và là khách hàng nội bộ của các khóa học [35]. Trong bối cảnh GDĐH, Cuthbert (1996) cho rằng việc chỉ rõ khách hàng nào là chính và hành vi của học sinh, sinh viên cùng các bên liên quan của trường đại học là một trong những khía cạnh cần được nghiên cứu [29]. Những nhà cung cấp dịch vụ (các trường đại học) có thể cung cấp các dịch vụ hiệu quả tốt nhất nếu họ biết được khách hàng cần gì, việc khám phá ra khách hàng chính của mình là ai, là thực sự rất cần thiết lựa chọn một trường đại học để theo học theo những tiêu chí nào, điều gì và ai có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ [33]. Từ các kết quả nghiên cứu, các trường đại học có thể hoàn thiện các giải pháp nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu lựa chọn trường tốt nhất để học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên, mặt khác giúp các trường phát triển định vị tổ chức trong tương lai [39].
Hay nói cách khác, chúng ta có thể nói sự lựa chọn – quyết định của khách hàng hay sinh viên là một phần ý định hành vi của họ và để hiểu về sự lựa chọn của sinh viên với tư cách là khách hàng của các Trường đại học – nhà cung cấp dịch vụ thì ta có thể xem xét dựa trên lý thuyết lựa chọn và lý thuyết hành vi. Lý thuyết lựa chọn của khách hàng Lý thuyết lựa chọn (Choice Theory) hay quyết định lựa chọn có thể được tiếp cận theo các quan điểm khác nhau. Tùy theo quan điểm của các nhà kinh tế, xã hội học, hay tâm lý học mà có cách biện luận riêng, có thể tóm tắt ngắn gọn như sau: Một là, theo quan điểm của các nhà kinh tế, hành vi lựa chọn của con người nói chung bị ảnh hưởng bởi “động cơ đồng tiền”, điều này có nghĩa là họ luôn quan tâm đến các cơ hội để gia tăng lợi nhuận, luôn cân nhắc để so sánh chi phí và lợi ích trước mỗi quyết định lựa chọn… Vì nguồn lực là khan hiếm, do vậy con người cần sử dụng nguồn lực đó để sản xuất, phân phối và sử dụng những hàng hóa và dịch vụ thật hiệu quả [28]. Theo lý thuyết này, mỗi cá nhân là nhà đầu tư.
Họ đầu tư vào GDĐH để tìm kiếm, hi vọng được lợi ích cao hơn sau những năm học tập. Theo Becker [23] sự đầu tư vào con người bao gồm đào tạo phổ cập trong nhà trường và đào tạo chuyên 6 môn trong quá trình làm việc. Lý thuyết đầu tư vốn con người dựa trên lý thuyết mong đợi và lựa chọn hợp lý. Mỗi cá nhân khi lựa chọn GDĐH đều dựa trên những so sánh về lợi ích mong đợi và chi phí học tập ở bậc đại học [9].
Như vậy, các yếu tố liên quan đến chi phí thực sự là vấn đề họ quan tâm nhất khi ra quyết định lựa chọn trường đại học. Hai là, theo quan điểm của các nhà xã hội học, Friedman và Hechter (1988) đã biện luận, các cá nhân khi quyết định đều có chủ ý và mục đích riêng, họ luôn cân nhắc để thu được lợi ích cao nhất [31]. Hành vi ra quyết định lựa chọn của một cá nhân nào đó xảy ra khi họ quan tâm đến hai yếu tố là “chi phí” và “thưởng”. Giá trị của giải thưởng đóng vai trò quan trọng trong việc có hay không thực hiện hành vi.
Nếu cá nhân cảm nhận được hành vi sẽ được khen thưởng, ủng hộ hoặc đồng hành thì họ sẽ có xu hướng hành động. Ngược lại sự xử phạt không mang lại hiệu quả và có giá trị tác động âm. Vốn xã hội là một “mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, ít nhiều đã được định chế hóa” và “khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà cá nhân có thể huy động được trong thực tế, và dựa vào khối lượng vốn của từng người mà cá nhân có tương tác”. Nghĩa là khi quyết định lựa chọn, con người thường chịu ảnh hưởng của các tác nhân xung quanh hoặc đặc điểm riêng của mỗi người.
Vì mỗi người có mạng lưới xã hội riêng (rộng hay hẹp), hay mức độ tác động nhiều hay ít do vậy các quyết định có thể xảy ra hoặc không, quyết định cũng có thể đúng hoặc sai nhưng đều thể hiện khát vọng và nhận thức riêng về môi trường xung quanh mà học tự đánh giá và lựa chọn [25]. Như vậy, quyết định lựa chọn trường đại học của mỗi cá nhân sẽ được dựa trên những nhận thức riêng của mỗi người như đặc điểm vốn có của họ (sở thích, khả năng, phong cách, năng lực…) và những tác động từ mạng lưới quan hệ xung 7 quanh của cá nhân như: lời khuyên của bố mẹ ông bà, sự ủng hộ, tán dương của những người quan trọng… Lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý là lý thuyết xây dựng dựa trên cả quan điểm kinh tế và xã hội học. Với giả định rằng một cá nhân hoặc tổ chức có các lựa chọn thay thế có sẵn cho phép họ lựa chọn một lựa chọn được coi là tối ưu nhất [9], [24]. Phương án tối ưu được lựa chọn trên cơ sở giả định cá nhân có đầy đủ thông tin và họ cũng ưu tiên những phương án họ “thích” hoặc phù hợp hơn với nhu cầu của họ.
Homans cũng đã diễn đạt theo kiểu toán học như sau: khi lựa chọn trong số các cách hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào sao cho tích của xác suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất (C = [P * V] = Max) [36]. Ba là, theo quan điểm của các nhà tâm lý học.