Chương 1: Cơ sở lí luận 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình làm việc, từ những nguồn tư liệu sẵn có về vấn đề cần nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy 3 văn bản chính sách của Nhà nước có liên quan đến những quyền lợi, phúc lợi và nghĩa vụ của đối tượng sinh viên, 2 bài viết được xuất bản trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo, chuyên san và 10 luận văn, báo cáo nghiên cứu khoa học trong nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến đời sống, nhà ở, học tập và những vấn đề khác xoay quanh chủ thể là sinh viên và cuộc sống của họ được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như: Xã hội học, Công tác xã hội nói riêng và ngành Khoa học xã hội nói chung. Mặc dù vậy, nhưng lại có rất ít những nghiên cứu và luận văn báo cáo khoa học có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của chúng tôi. Từ việc tìm hiểu những nguồn tài liệu sẵn có như trên sẽ giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đặc biệt là giúp chúng tôi có thể lĩnh hội được các phương pháp, nội dung, cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu đi trước.
Những báo cáo khoa học trên đã góp phần lớn giúp cho nhóm có cơ sở để kế thừa và tìm ra hướng đi mới cho nghiên cứu của mình. Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy 8 nghiên cứu thực tiễn. Trong đó, có 3 nghiên cứu liên quan đến khả năng thích ứng với môi trường học tập, cuộc sống xa nhà và những vấn đề bất cập của sinh viên trong môi trường đại học và thấy được những khó khăn và thuận lợi kèm theo những thách thức mới đối với sinh viên năm nhất trong việc thích nghi trong môi trường học tập ở đại học là nhu cầu cần thiết và cấp bách hiện nay. Các nghiên cứu thực tiễn có liên quan đến tình hình học tập và khả năng thích ứng của sinh viên hiện nay.
Gần đây, các nghiên cứu về đối tượng sinh viên nói chung đang rất được quan tâm từ xã hội, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những lí lẽ phù hợp kèm theo những giải pháp thực tiễn hữu ích nhằm trợ giúp cho các bạn sinh viên sống xa nhà có cơ hội và điều kiện nhận được sự hỗ trợ từ xã hội và nhà 14 trường để có thể yên tâm học tâp trên giảng đường đại học. Kèm theo đó là việc tạo cơ hội mở rộng hệ thống đào tạo giáo dục bậc đại học trong và ngoài tỉnh cho sinh viên, nhất là các đối tượng thuộc diện chính sách: hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, chủ đề này không những đã thu hút khá nhiều sự quan tâm của xã hội mà còn là mảnh đất màu mỡ cho các nhà nghiên cứu khai khác tìm hiểu, nhưng đa phần các nghiên cứu chỉ dừng lại ở những mức độ khác nhau: ở mức độ nhân diện các khó khăn về mặt đời sống vật chất, khả năng thích ứng của sinh viên khi bước vào môi trường đại học, đời sống tinh thần, tình trạng an ninh trật tự, đã có tác động trực tiếp đến sinh viên như liên quan đến hoạt động học tập, thích nghi trong môi trường học tập, quan hệ xã hội, vấn đề cá nhân, vấn đề an ninh trật tự nơi ở và an toàn cho bản thân,… nhưng lại có rất ít công trình nghiên cứu, khai thác trực tiếp cụ thể vấn đề khả năng thích ứng trong môi trường học tập ở bậc đại học của sinh viên năm nhất. Năm 1995, tác giả Trần Thị Minh Đức với công trình “Ảnh hưởng của môi trường kí túc xá sinh viên với lối sống sinh viên nội trú” đăng trong tạo chí Phát triển giáo dục số 6, đã phân tích thực trạng của lối sống sinh viên cả mặt tích cực và tiêu cực trong môi trường kí túc xá, từ đó nêu lên những khó khăn về mặt đời sống sinh hoạt ở trọ của sinh viên, góp phần đưa ra những kiến nghị cải tạo điều kiện sống ở kí túc xá cho sinh viên và việc giáo dục lối sống văn hóa cho sinh viên nội trú.
Năm 2002, tác giả Nguyễn Ánh Hồng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong luận án Tiến sĩ Tâm Lý học “Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”. Với mục đích phát hiện những nội dung tâm lý cơ bản và những biểu hiện của lối sống sinh viên. Nghiên cứu đã đề cập đến đối tượng sinh viên dưới nhiều khía cạnh, trong đó thông qua hoạt động học tập là chủ yếu. Dưới góc nhìn của tâm lý học, tác giả đã giúp xác định được hiện tượng lối sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh và những nhận định về xu hướng sắp tới, làm cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh và định hướng hoạt động của sinh viên từ góc độ tâm lý.
Bài viết “Bước đầu tìm hiểu tự học của sinh viên cao đẳng sư phạm” của 15 ThS. Trần Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 328, tr15 đã khái quát vai trò của việc tự học trong đổi mới giáo dục đào tạo, muốn giúp sinh viên học tốt thì điều quan trọng nhất là kỹ năng tự học của sinh viên phải được định hướng và giáo dục trong quá trình đào tạo. Năm 2002 khi trực tiếp khảo sát “Tìm hiểu nhận thức của sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam về tự học”, tác giả cho rằng phương pháp giảng dạy có vai trò quan trọng quyết định đến cách học của sinh viên và công tác giảng dạy đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu để đổi mới phương pháo giảng dạy cho phù hợp. Như vây, những công trình nghiên cứu về việc tự học của sinh viên khi họ ở ở xa nhà cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống và điều kiện sống chật vật đem lại.
Điều này, cho thấy mỗi tác giả khai thác vấn đề ở những khía cạnh khác nhau như lý luận, thực tiễn, về phía người dạy, về phía người học, về cá nhân, môi trường và đi sâu vào từng đối tượng cụ thể. Kết quả của những công trình nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng, thuận lợi, những khó khăn, những yếu tố tác động đến việc tự học và kết quả học tập của người học. Năm 2007, tác giả Nguyễn Thị Hoài – Khoa Sư phạm – ĐH Tây Nguyên với công trình “ Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất người dân tộc thiểu số” đăng trong Tạp chí Tâm lý học, số 4 (97), khẳng định sinh viên người dân tộc thiểu số ở ĐH Tây Nguyên thích ứng chưa cao với hoạt động học tập ở Đại học. Các tác động từ phía Nhà trường, Giảng viên, Tổ chức Đoàn thể sẽ giúp sự thích ứng tốt với học động học tập của sinh viên sẽ được cải thiện.
Năm 2010, tác giả Trần Thị Tú Anh – Trường ĐH Sư phạm, ĐH Huế với công trình “Những khó khăn của sinh viên thiệt thòi trong thời gian học tập tại Đại học Huế” đăng trong Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 62A, đã khẳng định chứng minh sinh viên thiệt thòi gặp khó khăn trong việc thích ứng với cuộc sống ở trọ, quá trình học tập, giao tiếp với giảng viên. Trong quá trình giao tiếp với bạn bè, cũng như các vấn đề về đảm bảo chăm sóc sức khỏe sinh viên thiệt thòi không hề gặp khó khăn. Có sự khác biệt về mức độ khó khăn giữa 2 giới, các khối và giữa sinh viên người dân tộc Kinh và Dân tộc thiểu số. Những khó khăn của sinh viên thiệt thòi gắn liền với điều kiện kinh tế thiếu 16 thôn, quan hệ xã hội khép kín, vốn tri thức nền tảng hạn chế, kinh nghiệm về cuộc sống thành thị ít ỏi… Năm 2012, tác giả Trương Thị Ngọc Điệp, Huỳnh Minh Hiền, Võ Thế Hiện và Hồ Phương Thùy – Trường ĐH Cần Thơ với công trình “Thuận lợi và khó khăn trong học tập của sinh viên năm nhất tại Đại học Cần Thơ” đăng trong Tạp chí khoa học 21a: 78 – 91 cho rằng các sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và nguyên nhân bắt nguồn từ ba nhóm yếu tố chính là từ bản thân sinh viên, từ phía đội ngũ cán bộ giảng dạy, cố vấn học tập và từ phía nhà trường, gia đình và bạn bè.
Trong đó, những trở ngại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của tân sinh viên phát sinh từ phía bản thân sinh viên và từ phía đội ngũ cán bộ giảng dạy và cố vấn học tập là thật sự đáng quan tâm. Sinh viên cũng có những yếu tố thuận lợi và khó khăn riêng trong từng nhóm yếu tố. Chính những khó khăn này đã có tác động tiêu cực đến kết quả học tập của sinh viên trong năm học đầu tiên ở bậc đại học và cản trở họ trong quá trình thích nghi với môi trường học ở bậc đại học trong những năm tiếp theo. Thông qua các nghiên cứu trên, các tác giả đã giải thích sự thích nghi, thích ứng là quá trình mỗi cá nhân tiếp cận các giá trị của xã hội, lĩnh hội các giá trị và chuẩn mực xã hội, điều tiết các mối quan hệ xã hội, xác định vị trí của mình trong những môi trường, hoàn cảnh xã hội nhất định.
Xét cho cùng, chính là việc cá nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa. Như vậy, ở góc độ này, sự thích ứng với môi trường sống và môi trường học tập của sinh viên chính là việc cá nhân sinh viên tạo ra những hành vi, ứng xử để đáp ứng mọi yêu cầu của môi trường học tập đại học. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể thấy được những khó khăn mà sinh viên phải đối mặt trong điều kiện sống xa nhà đặc biệt là việc học tập của sinh viên, họ phải tập quen với sự thích ứng với môi trường làm việc mới, tiếp thu văn hóa mới, các khó khăn rủi ro họ phải đố mặt. Và hơn nữa phải đối mặt với sự thiếu thốn, phức tạp trong sinh hoạt cá nhân làm ảnh hưởng đến tâm lí, hoạt động học tập, làm thay đổi nhân cách cá nhân của sinh viên.