CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI HỌC VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và các thành phần của quá trình đào tạo đại học. Khái niệm về đào tạo Đào tạo là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ người này (người dạy) sang người khác (người học). Kết quả là có sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học từ mức độ thấp đến cao.
Khái niệm đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù này vẫn có một sự khác nhau tương đối. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, đào tạo thường đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động đào tạo: Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Hoàng Phê, 2004), “đào” có nghĩa là sự giáo hóa, tôi luyện; “tạo” có nghĩa là làm nên, tạo nên. Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo … một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển văn minh của loài người”.
Theo Mai Quốc Chánh & Trần Xuân Cầu (2008), “Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định”. Như vậy, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Theo nghiên cứu của TS. Phạm Thị Mai Anh: Hoạt động đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở giáo dục, trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt 11 chẽ, cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể.
Như vậy đào tạo là hoạt động giảng dạy và học tập trong Nhà trường, là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm tạo dựng hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định trong phân công lao động xã hội. Đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng là một loại hình lao động xã hội đặc biệt. Quá trình có thể diễn ra trong nhà trường hoặc ngoài cơ sở sản xuất kinh doanh theo một ngành nghề cụ thể nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhất định trong lao động nghề nghiệp. Các thành phần phản ánh hoạt động đào tạo đại học Xét từ góc độ đào tạo là hoạt động chuyển giao những kinh nghiệm, tri thức, hay kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết cho người học trước khi bước vào cuộc sống lao động tự lập sau này.này, hoạt động đào tạo bao gồm các thành phần: mục tiêu, nội dung chương trình phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức các hoạt động đào tạo.
Xét từ góc độ là hoạt động tương tác giữa người dạy và người học,đào tạo bao gồm các thành phần: mục tiêu, nội dung chương trình,phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức các hoạt động đào tạo. Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của Nhà trường, hoạt động đào tạo bao gồm các khâu đầu vào như đánh giá nhu cầu đào tạo , xây dựng các chương tình đào tạo, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các chương trình đào tạo, tuyển sinh; các hoạt động đào tạo như dạy học, thực tập, giáo dục, nghiên cứu khoa học…; và đầu ra như kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và dạy học, xét học vụ và công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định và đảm bảo chương trình đào tạo.Như vậy có thể khái quát các thành phần chủ yếu phản ánh hoạt động đào tạo trong trường đại học bao gồm: Chương trình đào tạo Chương trình đào tạo là thành phần quan trọng nhất trong khái niệm hoạt động đào tạo, các nghiên cứu trên đã cụ thể hóa một cách rõ nét các thành phần cơ bản của 12 hoạt động đào tạo gồm: chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, tiêu chí kiểm tra đánh giá. Chương trình đào tạo bao gồm những mục tiêu học tập, những hoạt động học tập và những câu hỏi nghiên cứu. Chính vì vậy, chương trình đào tạo đại diện cho kế hoạch của cả một khóa học, những yếu tố của cả mục tiêu và phương tiện của khóa học.
Nghiên cứu của Lê Đức Ngọc (2004) cho rằng “Chương trình đào tạo là một văn bản pháp quy về kế hoạch tổ chức đào tạo một văn bằng, bao gồm: Mục tiêu đào tạo; nội dung và yêu cầu bắt buộc, tự chọn hay tùy ý, phân bố thời lượng của các môn học; kế hoạch thực hiện chương trình và điều kiện xét cấp văn bằng”. Trong khi đó, Trần Bá Hoành (2007) phát biểu “Chương tình đào tạo phàn ánh mối quan hệ tương tác giữa các thành phần cấu trúc của quá trình đào tạo: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá, trong đó mối quan hệ giữa mục tiêu – nội dung – phương pháp là cốt lõi. Chương trình đào tạo hướng về quá trình đào tạo diễn ra tại cơ sỏ đào tạo (lớp học, phòng thí nghiệm) chứ không phải là bản thiết kế nội dung đào tạo. Chương trình đào tạo quan tâm không chỉ hoạt động giảng dạy mà đặc biệt quan tâm đến sản phẩm đào tạo.
Văn bản chương trình đào tạo chứa đựng những thông tin cần thiết về mục tiêu, nội dung đào tạo, phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học, các phương tiện thiết bị để tiến hành đào tạo, các hình thức và tiêu chí đánh giá kết quả đào tạo”. Tác giả Đinh Thị Kim Thoa (2008) cho rằng “Chương trình đào tạo là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó thể hiện các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập và các đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”. Như vậy, các quan niệm của các tác giả trên đều thống nhất với một số văn bản như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học: Chương trình đào tạo bao gồm mục tiêu của chương trình , nội dung của chương trình, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện chương trình. Chương trình đào tạo được xem là điều kiện tiên quyết để tiến hành có chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục cho người học.
Việc xem xét đến tính phù hợp, khoa học, cân đối và ứng dụng là những tiêu chí cần thiết để đảm bảo chất lượng từng chương trình. 13 Giáo trình, tài liệu học tập Giáo trình là tài liệu cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng và thái độ quy định trong chương trình đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục đại học và kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo. Giáo trình được sử dụng cho việc giảng dạy, chuẩn bị bài giảng của giáo viên và là tài liệu học tập chính thức đối với môn học có trong chương trình đào tạo. Trong quá trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ thì giáo trình, tài liệu học tập đóng vai trò là công cụ quan trọng giúp người học có tư liệu cho quá trình tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức.
Giáo trình,tài liệu học tập cần đáp ứng nhu cầu người học, phải đảm bảo: Tính đầy đủ; tính khoa học; và tính cập nhật. Cơ sở vật chất và trang thiết bị Khái niệm cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giáo dục đã được nếu trong nghiên cứu của Hoàng Minh Thao & Hà Thế Truyền (2003): “Cơ sở vật chất và trang thiết bị là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục đích giáo dục”. Cơ sở vật chất và trang thiết bị được xem như là “Phương tiện lao động sư phạm của nhà giáo dục và học sinh” và nhu cầu thiết yếu cần có để đảm bảo nhà trường hoạt động có chất lượng và hiệu quả. “Đây là một hệ thống bao gồm trường sở, thiết bị chung , thiết bị dạy học theo các môn học và các thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục khác như giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất…” (Vũ Trọng Rỹ, 2004).
Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo (2006) đã định nghĩa cơ sở vật chất của trường học là “tất cả các phương tiện vật chất của giáo viên và học sinh sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương tình giáo dục, giảng dạy” và họ cũng vho rằng “cái lõi của cơ sở vật chất trường học chính là các thiết bị dạy học (Equipment for Teaching)”. Tóm lại, từ các nghiên cứ trên có thể khẳng định: Cơ sở vật chất – trang thiết bị trường học là thành phần quan trọng thuộc hoạt động đào tạo của nhà trường. Đội ngũ giảng viên Trong xã hội dựa trên tri thức và số hóa hiện nay, với thách thức của giáo dục phải chuyển từ học truyền thống sang đổi mới phương pháp học đã đặt ra yêu cầu lớn 14 thay đổi vai trò của giáo viên - truyền thụ kiến thức theo cách truyền thống sang vai trò xúc tác điều phối.