PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xu thế hội nhập và phát triển, ngành giáo dục luôn đƣợc quan tâm hàng đầu, nhất là chất lƣợng giáo dục đại học (GDĐH). Để từng bƣớc phát triển GDĐH theo chuẩn quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng giáo dục trƣờng đại học. Trong thời gian qua, một số trƣờng đã tiến hành xây dựng hệ thống chất lƣợng đảm bảo chất lƣợng giáo dục (ĐBCLGD) và trong năm 2009 theo chủ trƣơng của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) 100% trƣờng đại học, cao đẳng trong cả nƣớc phải thực hiện công tác tự đánh giá.
GDĐH đƣợc công nhận là một công cụ hiệu quả cho sự phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và phát triển xã hội trên nhiều phƣơng diện. GDĐH không đơn thuần là hƣớng tới cung cấp 1 đội ngũ nhân lực có trình độ cao phục vụ phát triển của xã hội mà còn là công cụ quan trọng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao cho xã hội. GDĐH theo xu thế toàn cầu hóa của thời đại mới đòi hỏi sự thay đổi cơ cấu và toàn diện các mặt hoạt động của các trƣờng đại học. Tuy nhiên, ngày nay GDĐH của Việt Nam, cũng nhƣ của nhiều nƣớc khác trong khu vực và trên thế giới, đang phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá kinh tế, đang ảnh hƣởng đến nhiều mặt của cuộc sống.
Trong hoàn cảnh đó, sự cạnh tranh thị trƣờng lao động có trình độ cao đang ngày càng trở nên gay gắt. Điều đó đòi hỏi những ngƣời tốt nghiệp đại học phải có những phẩm chất và kiến thức nhất định, mới có khả năng cạnh tranh thành công trên thị trƣờng lao động ngày càng sôi động. Những xu thế này dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lƣợng GDĐH ở các nƣớc trong khu vực sao cho GDĐH có thể so sánh với nhau, công nhận và thừa 1 nhận lẫn nhau. Điều này đòi hỏi Việt Nam và các nƣớc trong khu vực phải phấn đấu đạt đƣợc những chuẩn mực chung về chất lƣợng GDĐH.
Giáo dục Việt Nam qua nhiều cuộc cải tổ giáo dục sâu rộng, toàn diện và tốn nhiều thời gian, tiền bạc, công sức của nhà nƣớc, ngƣời dân, kết quả thu đƣợc gì? Chúng ta cứ loay hoay mãi trong vấn đề nâng cao chất lƣợng giáo dục bằng cách cải tiến mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, cơ sở vật chất, đãi ngộ giảng viên tốt hơn, đầu tƣ nhiều hơn cho giáo dục, xã hội hóa giáo dục…nhƣng vẫn không tìm thấy lối thoát. Việc thực hiện cải cách giáo dục đòi hỏi phải có thời gian dài tuy nhiên việc đánh giá thực hiện các biện pháp ĐBCLGD là điều không thể thiếu đƣợc. Chất lƣợng giáo dục đã trở thành một đề tài nóng bỏng đối với nhiều cá nhân và các tổ chức có liên quan. Đảm bảo chất lƣợng nhanh chóng đƣợc triển khai nhằm phục vụ yêu cầu của thời đại mới.
Hiện nay có nhiều khảo sát, bài báo, sách và các học giả nghiên cứu các biện pháp ĐBCLGD tại Việt Nam và yêu cầu bức thiết thay đổi nhanh chóng cách đào tạo và đổi mới phƣơng pháp giảng dạy (PPGD). Các trƣờng đại học nói chung và trƣờng Đại học Sài Gòn nói riêng đã tiến hành các biện pháp ĐBCLGD. Trƣờng Đại học Sài Gòn đƣợc thành lập trên cơ sở nâng cấp từ Trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm và đƣợc mang tên Trƣờng Đại học Sài Gòn từ năm 2007. Trong những năm đầu thành lập trƣờng tiến hành biện pháp ĐBCLGD nhờ bộ phận Thanh tra của Trƣờng biện pháp chủ yếu là kiểm soát chất lƣợng.
Sau đó Trƣờng thành lập bộ phận chuyên trách Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng giáo dục (KTKĐCLGD) chuyên theo dõi các công tác đảm bảo chất lƣợng cho Nhà trƣờng. Hiện nay, theo quy định của Bộ GD&ĐT các trƣờng đại học chuyển dần sang việc đào tạo theo học chế tín chỉ, đây là hình thức đào tạo còn mới mẻ đối với một số Trƣờng đại học nói chung và trƣờng Đại học Sài Gòn nói riêng, đặc biệt việc 2 đổi mới PPGD theo yêu cầu của học chế tín chỉ “ Lấy ngƣời học là trung tâm” là điều không thể thiếu. Tuy nhiên, có những câu hỏi liên quan đến tính hiệu quả của các biện pháp đảm bảo chất lƣợng đến PPGD của giảng viên chƣa có lời giải đáp và nhất là đang trong giai đoạn áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của các biện pháp đảm bảo chất lƣợng giáo dục tới phƣơng pháp giảng dạy của giảng viên (nghiên cứu tại trƣờng Đại học Sài Gòn)”.
Chúng tôi hy vọng đề tài sẽ thấy đƣợc hiệu quả của các biện pháp ĐBCLGD tác động nhƣ thế nào đối với PPGD của giảng viên tại trƣờng Đại học Sài Gòn. Trên cơ sở đó ngƣời giảng viên sẽ lựa chọn phƣơng pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy. Đối tƣợng và khách thể, phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu : Tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới PPGD của giảng viên. Khách thể nghiên cứu chủ yếu là nhóm giảng viên hiện đang giảng dạy tại trƣờng Đại học Sài Gòn.
Tuy nhiên để xem xét và nghiên cứu đầy đủ hơn các chiều cạnh của sự tác động, nghiên cứu hƣớng đến thu thập ý kiến đánh giá của nhóm sinh viên hiện đang học tại trƣờng Đại học Sài Gòn. Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đƣợc tiến hành từ tháng 05 đến tháng 12 năm 2010 + Phạm vi không gian: Trƣờng Đại học Sài Gòn. Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung vào một số biện pháp ĐBCLGD có ảnh hƣởng đến PPGD của giảng viên. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hƣớng tới những mục đích: 3 Tìm hiểu các biện pháp ĐBCLGD và PPGD của giảng viên đã và đang sử dụng tại trƣờng Đại học Sài Gòn.
Tìm hiểu tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới sự thay đổi PPGD của giảng viên. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu: 4. Câu hỏi nghiên cứu: Tác động của các biện pháp ĐBCLGD tới PPGD của giảng viên nhƣ thế nào? 4. Giả thiết nghiên cứu: - Hầu hết các biện pháp ĐBCLGD áp dụng ở Đại học Sài Gòn thời gian qua đều tác động đến PPGD của giảng viên.
- Dƣới tác động của các biện pháp ĐBCLGD các PPGD biến đổi theo hƣớng giảm dần áp dụng các PPGD truyền thống, tăng cƣờng áp dụng các PPGD tích cực - Các biện pháp ĐBCLGD đƣợc áp dụng chủ yếu tác động đến việc thay đổi PPGD của giảng viên đó là: Công bố chƣơng trình đào tạo, mỗi môn học có đề cƣơng chi tiết, chuyển đổi phƣơng thức đào tạo, lấy ý kiến phản hồi của ngƣời học về giảng dạy môn học, công tác tự đánh giá, thành lập Phòng KTKĐCLGD. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 5. Phƣơng pháp chọn mẫu - Mẫu khảo sát cho giảng viên: + Số lƣợng cán bộ, giáo viên và nhân viên của trƣờng đại học Sài Gòn gồm 776 ngƣời, trong đó có 468 cán bộ giáo viên đứng lớp. + Dung lƣợng mẫu: 255 ngƣời/468 ngƣời.
+ Cách chọn: Luận văn nghiên cứu và xem xét sự biến đổi PPGD của giảng viên trƣớc và sau năm học: 2008-2009 (năm học Trƣờng bắt đầu áp dụng nhiều biện pháp ĐBCLGD), vì vậy chúng tôi chọn mẫu là tất cả các 4 cán bộ giảng viên và đối tƣợng giảng viên đƣợc khảo sát phải có thâm niên công tác tại trƣờng từ 4 năm trở lên khoảng 270 ngƣời. Chúng tôi đã tiến hành điều tra số lƣợng giảng viên theo yêu cầu trên dƣới dạng phát phiếu thu thập ý kiến. - Mẫu khảo sát cho sinh viên: + Số lƣợng sinh viên đại học năm thứ 3 của trƣờng đại học Sài Gòn khoảng 2000 sinh viên bao gồm khối sƣ phạm và ngoài sƣ phạm. Do đặc thù của nhà trƣờng khối sƣ phạm đã đƣợc đào tạo từ năm 1975, còn khối ngoài sƣ phạm mới đƣợc đào tạo từ năm 2007.
Nên để thấy đƣợc sự thay đổi PPGD của giảng viên luận văn chọn ngẫu nhiên 3 ngành gồm 1 ngành thuộc khối sƣ phạm và 2 ngành khối ngoài sƣ phạm. Cụ thể: ngành Công nghệ thông tin (khối sƣ phạm), ngành Kế toán tài chính và ngành Thƣ viện – Thông tin (khối ngoài sƣ phạm). + Dung lƣợng mẫu: 306 ngƣời/400 ngƣời + Cách chọn: Tại 3 ngành Công nghệ thông tin, ngành Kế toán tài chính và ngành Thƣ viện – Thông tin chọn ngẫu nhiên 1, 2 lớp đại học năm thứ 3. Số sinh viên đƣợc phát phiếu hỏi đƣợc lấy từ danh sách của mỗi lớp.
Chọn 1 sinh viên đại diện cho năm thứ tƣ tại mỗi ngành làm đối tƣợng phỏng vấn sâu, đồng thời chọn 3 đến 4 giảng viên giảng dạy trong trƣờng có số năm từ 4 năm trở lên để tiến hành phỏng vấn sâu. Phƣơng pháp thu thập thông tin Phƣơng pháp định tính: Tìm hiểu các biện pháp ĐBCLGD của nhà trƣờng đã tiến hành thông qua phỏng vấn và các văn bản pháp lý. Sau đó tiến hành phỏng vấn sâu để xác định các biện pháp ĐBCLGD nào tác động đến PPGD của giảng viên. Phƣơng pháp định lƣợng: tiến hành điều tra thông qua việc phát và thu bảng hỏi, thống kê và xử lý số liệu.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình ở ngoài nƣớc nghiên cứu về vần đề đảm bảo chất lƣợng trong giáo dục và hoạt động giảng dạy của giảng viên NGA Center for Best Practices, Education Policy Studies Division, December 9, 2006. “Tăng cƣờng đánh giá giảng viên và tăng cƣờng chất lƣợng giảng dạy” [5], trong bài báo này tác giả đã nhấn mạnh các nhà giáo dục đã thấy đƣợc sự quan trọng của việc ĐBCLGD, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lƣợng giảng dạy tác động đến kết quả học tập của sinh viên lớn hơn là tác động về các mặt khác trong nhà trƣờng. Trong thực tế các nhà giáo dục đã đƣa ra chính sách ĐBCLGD ngoài việc chọn đội ngũ giảng viên còn phải chú trọng về việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy.
Việc lấy ý kiến phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy đã giúp đỡ rất nhiều cho việc đánh giá giảng viên, thay cho lối truyền thống là dựa trên dữ liệu học tập, sự quan sát lớp học và sự quản lý lớp của giảng viên. Những nhà giáo dục đang vạch ra kế hoạch thay đổi đánh giá giảng viên bằng công cụ hiệu quả hơn để phát triển hoạt động giảng dạy và nâng cao kết quả học tập của sinh viên. Quality in Higher Education, Vol12, No.