Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận và đề xuất một số giải pháp. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các đề tài nghiên cứu. Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, nhóm sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên sau tốt nghiệp: 2.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài Trong đề tài nghiên cứu “The integrated career change model’’ của Rhodes và Doering (1983), nghiên cứu này giải thích sự thay đổi nghề nghiệp của bạn trẻ bằng cuộc khảo sát những người đã rời bỏ ngành khách sạn. Nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến quyết định thay đổi công việc bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố xã hội, sự thăng tiến trong công việc, sự không hài lòng với công việc. Kết quả cho thấy rằng yếu tố sự thăng tiến trong công việc có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định thay đổi công việc của các bạn trẻ và yếu tố có tác động thấp nhất là sự không hài lòng trong công việc. Bên cạnh đó, trong đề tài nghiên cứu “Asian Americans’ Career Choices: A path model to examine Factors influencing their career choices” của Mei Tang và cộng sự (1996), tác giả đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của người Mỹ gốc Á, đối tượng nghiên cứu được thực hiện với 187 sinh viên đại học với các yếu tố bao gồm: văn hóa, sở thích nghề nghiệp, năng lực nghề nghiệp, nền tảng gia đình.
Kết quả cho thấy rằng sở thích nghề nghiệp không ảnh hưởng nhiều đến quyết định lựa chọn công việc của người Mỹ gốc Á thay vào đó là yếu tố nền tảng gia đình và sự tiếp biến văn hóa có ảnh hưởng nhiều nhất. Các công trình nghiên cứu trong nước Lê Quỳnh Anh và các cộng sự (2018) đã thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như nguyên nhân ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân. Từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện thực trạng học trái ngành để không lãng phí nguồn lực lao động cho các doanh nghiệp và Nhà nước. Khảo sát các sinh viên năm ba, năm bốn và sinh viên đã tốt nghiệp không quá 2 năm, nghiên cứu đã đưa ra các giả thiết sau: [H1] Xã hội có ảnh hưởng tới quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H2] Gia đình có ảnh hưởng tới quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H3] Nhà trường THPT và Đại học có ảnh hưởng tới quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H4] Các yếu tố thuộc ngành nghề mới có ảnh hưởng tới quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H5] Các yếu tố thuộc về các nhân có ảnh hưởng tới quyết định làm việc trái ngành của sinh viên.
Kết quả cho thấy rằng trong 5 yếu tố ảnh hương đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên, yếu tố cá nhân và gia đình có tác động mạnh mẽ nhất đến quyết định lựa chọn làm việc trái ngành của sinh viên. Cũng với đề tài này, Nguyễn Hữu Nghĩa (2013) thực hiện nghiên cứu nhằm đưa ra thực trạng làm việc trái ngành của sinh viên cũng như mức độ hài lòng của việc làm trái ngành. Từ đó đề xuất giải pháp định hướng lựa chọn công việc phù hợp cho sinh viên. Đề tài nghiên cứu đối tượng là sinh viên đã ra trường và có việc làm trong phạm vi quận 1, quận 4, quận Tân Bình, quận Bình Thạnh của Thành phố Hồ Chí Minh.
5 Nghiên cứu đưa ra các giả thiết: [H1] Thu nhập có ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H2] Khả năng thăng tiến có ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H3] Sở thích cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên; [H4] Làm tạm thời để tìm kiếm việc phù hợp có ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên. Nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định làm việc trái ngành của sinh viên là: Thu nhập, Khả năng thăng tiến, Sở thích cá nhân, Làm tạm thời để tìm việc phù hợp. Trong đó yếu tố Thu nhập và sở thích cá nhân có tác động mạnh mẽ nhất, cuối cùng là yếu tố làm tạm thời để tìm việc phù hợp. Tiếp theo, Vũ Thị Bích Hảo, Nguyễn Thị Bích Ngọc, Lê Thị Minh Thu (2022) đã thực hiện nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn công việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên năm thứ 3 trường Đại học điều dưỡng Nam Định năm học 2021-2022.
Khảo sát 352 sinh viên năm 3 của trường Đại học điều dưỡng Nam Định, tác giả đã chỉ ra có 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định này bao gồm: Trường học, gia đình, bạn bè, cá nhân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra yếu tố Nhà trường và Gia đình có tác động mạnh mẽ nhất đến quyết định làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên và cuối cùng là yếu tố bạn bè. Bên cạnh đó, Mai Thị Bích Phương (2018) đã thực hiện nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố tác động đến định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Qua nghiên cứu cho thấy các yếu tố trường học, gia đình và cá nhân đều có ảnh hưởng đến địnhh ướng việc làm của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tốt nghiệp; trong đó, yếu tố cá nhân có vai trò rất quan trọng vì mỗi cá nhân có năng lực, nhận thức và cách tiếp cận khác nhau sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của mỗi sinh viên.
Lê Hải Nam (2016) đã bàn về khía cạnh sở thích, ổn định, đúng chuyên môn, thu nhập cao, xã hội coi trọng có liên quan đến định hướng việc làm của sinh viên ngành Xã hội Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và Đại học Công đoàn. Trong đó sinh viên chọn việc làm ổn định chiếm tỷ lệ cao nhất trong các giá trị định hướng việc làm. Các khái niệm liên quan • Sinh viên: Theo Từ điển Tiếng Việt của Gs. Hoàng Phê (2003), sinh viên là “người học ở bậc đại học.” Còn theo giáo trình Tâm lý học phát triển của tác giả Vũ Thị Nho (2008) thì sinh viên là lứa tuổi từ sau tuổi Phổ thông trung học đến khoảng 24-25 tuổi.
Đây là lớp người đang theo học ở các trường Đại học, cao đẳng, là tầng lớp tri thức của xã hội. Sinh viên là tầng lớp quan trọng trong mỗi chính thể, là đội ngũ chuyển tiếp, chuẩn bị cho nguồn lực lao động xã hội có trình độ cao của đất nước. 6 • Tốt nghiệp: Từ điển Tiếng Việt của Gs. Hoàng Phê (2003) định nghĩa tốt nghiệp là “Được công nhận đã đạt tiêu chuẩn kiểm tra kiến thức hoặc trình độ nghiệp vụ sau khi học xong một trường hoặc một bậc học, một cấp học.” • Việc làm: Theo quan điểm của Marx, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, …) để sử dụng sức lao động đó.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm là các hoạt động kinh tế mà người lao động tham gia để tạo ra giá trị và có thu nhập từ công việc của mình, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội. Căn cứ theo Điều 9 Bộ luật Lao Động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”. • Việc làm trái ngành: Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “việc làm trái ngành (job mismatch) là tình trạng khi một người lao động có kỹ năng, trình độ, hoặc học vấn không phù hợp với công việc mà họ đang làm.’’ Việc làm trái ngành có thể hiểu là người lao động làm việc không đúng với những kiến thức chuyên môn mà mình đã được học. Các lý thuyết liên quan • Thuyết hành động hợp lý (TRA) Mô hình thuyết hành động hợp lý trong tiếng Anh gọi là: Theory of Reasoned Action – TRA mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, chuẩn mực, ý định và hành vi do Fishbein (1967) xây dựng và được phát triển, kiểm định bởi Ajzen và Fishbein (1975).
Thuyết này được sử dụng để dự đoán và hiểu hành vi của một cá nhân bằng cách xem xét ảnh hưởng của cảm xúc cá nhân (thái độ) và áp lực xã hội được nhận thức (chuẩn mực chủ quan). Thái độ đối với hành vi Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2. Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) Các thành phần trong mô hình TRA bao gồm: 7 - Hành vi là những hành động quan sát được của đối tượng (Fishbein và Ajzen,1975, tr.13) được quyết định bởi ý định hành vi. - Ý định hành vi (Behavioral intention) đo lường khả năng chủ quan của đối tượng sẽ thực hiện một hành vi và có thể được xem như một trường hợp đặc biệt của niềm tin (Fishbein & Ajzen, 1975, tr.
Được quyết định bởi thái độ của một cá nhân đối với các hành vi và chuẩn chủ quan. - Chuẩn chủ quan (Subjective norms) được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, với những người tham khảo quan trọng của cá nhân đó cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Fishbein & Ajzen, 1975). Chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan với người tiêu dùng, được xác định bằng niềm tin chuẩn mực cho việc mong đợi thực hiện hành vi và động lực cá nhân thực hiện phù hợp với sự mong đợi đó (Fishbein & Ajzen, 1975, tr 16). Mục đích chính của TRA là tìm hiểu hành vi tự nguyện của một cá nhân bằng cách kiểm tra động lực cơ bản tiềm ẩn của cá nhân đó để thực hiện một hành động.
Lý thuyết này chỉ ra rằng “ý định” là dự đoán tốt nhất của hành vi cuối cùng và ý định đồng thời được xác định bởi thái độ và các quy chuẩn chủ quan. Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên cứu chỉ ra một hạn chế của lý thuyết này: ý định hành vi không phải lúc nào cũng dẫn đến hành vi thực tế.