Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn nghề của lao động trẻ Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu Chương 3: Thực trạng các yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn nghề của lao động trẻ ở Việt Nam Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao khả năng tham gia thị trường lao động và lựa chọn nghề phù hợp cho lao động trẻ ở Việt Nam. CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC YEU TO TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC THAM GIA THỊ TRUONG LAO ĐỘNG VÀ LỰA CHON NGHE CUA LAO DONG TRE 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về các yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn nghề của lao động trẻ Phan tổng quan tài liệu tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đã được thực hiện cả trong nước và quốc tế bao gồm yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và yếu tố tác động tới lựa chọn nghề nghiệp của người lao động. Người lao động có thể có hai quyết định độc lập với nhau là quyết định tham gia thị trường lao động trước, sau đó mới quyết định lựa chọn nghề nghiệp sẽ làm.
Tuy nhiên, có thể xảy ra trường hợp hai quyết định này đồng thời được đưa ra. Do vậy, những yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động cũng có thê là những yếu tố tác động tới lựa chọn nghề nghiệp của người lao động. Chính vì vậy, phần tổng quan tài liệu theo yếu tố tác động sẽ đồng thời tông hợp tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn việc làm của người lao động dé từ đó có định hướng cho việc tổng hợp và lựa chọn các yếu tố phù hợp đưa vào mô hình phân tích của luận án. Nhóm yếu tổ liên quan tới đặc điểm cá nhân Yếu tố tudi và giới tính Phần lớn các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều có chung một kết luận rằng tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nam giới cao hơn nữ giới và tuổi của người lao động có mối quan hệ thuận với tỷ lệ tham gia thị trường lao động (Mohamed, 2005; Guarcello và cộng sự, 2006; Đặng Nguyên Anh và cộng sự, 2005).
Tuy nhiên, nữ giới có xu hướng tham gia trực tiếp vào các công việc toàn thời gian mà không cần dao tạo thêm. Đồng thời họ cũng có xu hướng cao hon trong việc vừa không tham gia thị trường lao động vừa không tham gia học tập (Lamb và McKenzie, 2001). Tỷ lệ tham gia thị trường lao động của nam giới và nữ giới là rất khác nhau, đặc biệt là ở khu vực châu Á. Đa phần lao động nữ ở khu vực này tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức, tự làm chủ và các công việc dễ bị tôn thương.
Hơn nữa, một số nghiên cứu đã chỉ ra răng tỷ lệ nữ giới tham gia vào thị trường lao động sẽ tăng lên dé bù đắp vào phan thu nhập bị giảm xuống khi tinh trạng thất nghiệp của nam giới trong hộ gia đình tăng lên. Yếu tổ trình độ học vấn Người lao động có trình độ giáo dục cao hơn có nhiều khả năng nhận được thu nhập cao hơn” cũng như cơ hội việc làm tốt hơn (Kyalo, 2005; Burtless, 2013; Hosney, 2015) và do đó họ sẽ san sàng tham gia vào thị trường lao động (Pastore, 2005; Faridi và Basit, 2011; Khadim và Akram, 2013). Hơn thế nữa, trình độ giáo dục càng cao thì chi phí cơ hội của việc không tham thị trường lao động cũng sé cao hơn và điều đó tạo áp lực cho những người có trình độ cao tham gia vào thị trường lao động (Kyalo, 2005). Phần lớn các nghiên cứu sử dụng số năm đi học làm đại diện cho trình độ giáo dục của người lao động (Bowen và Finegan, 1966) hoặc theo bằng cấp cao nhất mà người lao động có được như đã tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phô thông, cao đăng/đại học hoặc cao hơn.
Theo đó, trình độ học vẫn cao nhất có được càng cao thì tỷ lệ tham gia thị trường lao động càng cao (Kabubo-Mariara, 2003; Atieno, 2006; Guarcello và cộng sự, 2006; Kyalo, 2005) và có được việc làm tốt càng lớn (Ham và cộng sự, 2009). Tuy nhiên, Contreras và cộng sự (2010) lại phát hiện rằng đối với nam thanh niên ở Chilê, mối quan hệ giữa trình độ học van và tỷ lệ tham gia thị trường lao động là ngược chiều nhau. Đây cũng là phat hiện của Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2005) ở Việt Nam. Batchuluun và Dalkhjav (2014) phân tích cho Mông Cổ chỉ ra rằng sự tham gia thị trường lao động của nam 5 Varian, 1992 khăng định điều này dựa trên lý thuyết về dấu hiệu (signaling theory) về phía cầu, người thuê lao động thường có xu hướng trả thu nhập cao hơn cho người lao động có trình độ cao bởi trình độ cao di liên với việc có năng suat lao động cao hơn so với những người có trình độ thâp hơn 10 giới có trình độ học van cao ở khu vực nông thôn thấp hơn nhóm có trình độ thấp và yếu tố trình độ học vấn có tác động mạnh tới việc tham gia thị trường lao động ở khu vực thành thị.
Liên quan tới quyết định lựa chọn việc làm, Đỗ Thị Quỳnh Trang và Duchene (2008), Vũ Hoàng Dat và Nguyễn Thắng (2012) chỉ ra rang yếu tô trình độ giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn việc làm công nhân trực tiếp của lao động Việt Nam. Tuy nhiên, tác động này đã ngày càng giảm dần do trình độ học vấn của lao động trẻ ngày một tăng lên. Đặc biệt là rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ giáo dục không có hiệu quả bảo vệ lao động trẻ bị thất nghiệp. Thậm chí, tỷ lệ thất nghiệp ở người có trình độ cao là cao hơn những người có trình độ thấp hoặc không có trình độ (O’Higgins, 2003; Kuepie và cộng sự, 2006; Serneels, 2004).
Lý giải cho điều này Serneels (2004) cho rằng những lao động trẻ có trình độ giáo dục cao, có kỳ vọng lớn hơn về mức thu nhập và điều kiện làm việc, do đó họ sẵn sàng chấp nhận tình trạng thất nghiệp và chờ đợi tới khi tìm được công việc họ mong muốn. Nhìn chung, tổng quan tài liệu về mô hình lý thuyết đã khang định vai trò của trình độ giáo dục tới việc tham gia thị trường lao động của lao động nói chung và lao động trẻ nói riêng theo cả mặt cung và mặt cầu. Về phía cung, những thanh niên có trình độ cao thường có xu hướng nhận được thu nhập cao hơn và chế độ đãi ngộ tốt hơn nên họ có xu hướng tham gia thị trường lao động cao hơn. Tuy nhiên, có trường hợp ngược lại là khi đã nhận được thu nhập cao và đãi ngộ tốt thì những lao động đó lại có xu hướng nghỉ ngơi nhiều hơn.
Về phía cầu, các doanh nghiệp có xu hướng trả lương cao hơn cho những lao động có trình độ cao bởi thường thì những lao động nay sẽ có năng suất lao động cao hơn theo lý thuyết về “dau hiệu” (signaling). Tuy nhiên, lý thuyết dấu hiệu này có thé bi sai lệch trên thị trường lao động Việt Nam bởi lẽ trình độ học vấn, đặc biệt ở bậc đại học và sau đại học ở Việt Nam có thể không phản ánh đúng khả năng và năng suất lao động của người lao động. Nhiều người đã có việc làm và họ học thêm dé lay bang cấp cho phù với vị trí công việc mà họ đang năm giữ. 11 Yếu tố tình trạng hôn nhân Trong khi một số nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ đã kết hôn có xu hướng ít tham gia vào thị trường lao động (Ejaz, 2007) thì một số nghiên cứu khác lại không tìm thay mối quan hệ giữa tình trạng hôn nhân và việc tham gia thị trường lao động của phụ nữ (Khadim va Akram, 2013).
Nếu như tình trạng hôn nhân làm tăng tỷ lệ tham gia thị trường lao động ở Trung Quốc và Sierra Leone thì yếu tố này lại làm giảm tỷ lệ tham gia ở Ai Cập va Colombia (Mohamed, 2005). Kyalo (2005) cũng chỉ ra yếu tố tình trạng hôn nhân làm giảm xác suất tham gia thị trường lao động của lao động trẻ ở Kenya. Tại Việt Nam, Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2005) chỉ ra rằng tình trạng hôn nhân không có ý nghĩa thống kê trong việc tham gia thị trường lao động, tuy nhiên những thanh niên độc thân có xu hướng tìm việc làm cao hơn những thanh niên đã kết hôn. Những thanh niên có bố mẹ li di cũng có xu hướng tìm việc và tham gia thị trường lao động cao hơn những thanh niên không có hoản cảnh tương tự.
Yếu tố khuyết tật Mặc dù có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và việc tham gia thị trường lao động ở các nước phát triển, rất ít nghiên cứu về van dé này ở các nước dang phát triển (Dogrul, 2015). Theo lý thuyết thì đây cũng được coi là một biến số quan trọng có tác động tới khả năng gia nhập thị trường lao động và lựa chọn nghề nghiệp của người lao động cần phải được phân tích. Một lao động khỏe mạnh là một yếu tố quan trọng cho nguồn vốn con người (Becker, 1993). Một người khỏe mạnh sẽ có khả năng có trình độ học vấn tốt hơn, có thu nhập tốt hơn và do đó họ có nhiều khả năng tham gia vào thị trường lao động cao hơn (Holt, 2010).
Ngược lại, một lao động với sức khỏe kém sẽ khó có thé đạt được năng suất lao động như người bình thường, do đó sẽ ít cơ hội để họ được tuyển dụng. Như vậy, có nhiều khả năng sức khỏe kém hoặc bị khuyết tật sẽ là một rào cản làm giảm khả năng tham gia vào thị trường lao động của người lao động nói chung và của lao động trẻ nói riêng (Mohamed, 2005; Cai, 2010). Lamb và MeKenzie (2001) cũng chỉ ra rằng, 12 những học sinh khuyết tật gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình chuyên đổi từ trường học tới việc làm và họ thường phải chịu tình trạng thất nghiệp dài hạn lâu hơn những học sinh không khuyết tật sau khi kết thúc quá trình học tập. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2005) đã chỉ ra răng những thanh niên khuyết tật có xu hướng tham gia thị trường lao động và chủ động tìm việc làm cao hơn những thanh niên không khuyết tật.