Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nạo hút thai trên thế giói Nạo hút thai là một trong những vấn đề liên quan đến sức khoẻ được cộng đồng toàn thế giới quan tâm và theo dõi. Thời gian gần đây hội nghị về “Dân số và phát triển” tổ chức tháng 9 năm 1994 tại Ai Cập, hội nghị về “Sức khoẻ sinh sản” tổ chức tại Trung Quốc năm 1995, hội thảo về “Sức khoẻ phụ nữ khu vực Đông Nam Á” tổ chức tháng 6 năm 1998 tại Malaisia (22) và rất nhiêù hội nghị, hội thảo khác đều đề cập tói tình trạng nạo hút thai. Nạo hút thai được đặt trong phạm trù của sức khoẻ sinh sản (9), nhiêu cộng đồng quốc tế đã công khai thừa nhận về tình trạng thiếu thông tin về sử dụng các dịch vụ nạo hút thai và hâu quả của nạo thai đối với phụ nữ.
Một sô ít các nước đang phát triển đã tạo điều kiên dễ dàng cho phụ nữ tiếp nhận dịch vụ nạo hút. thai; nhưng phần lớn các nước đều có chính sách ngặt nghèo quy định những điều kiện được phép nạo hút thai (29), ỏ' nhiều nước đang phát triển, nạo hút thai vẫn còn là một chú đề gây tranh cãi và vẫn còn chưa được chấp nhận như là một dịch vụ sức khoẻ hợp pháp của người phụ nữ. Ở nhiều nơi trên thê giới việc sử dụng dịch vụ nạo hút thai vãn còn là hành vi ph ải dâu điếm và ít được hiểu biết. Ngay ở những nước phát triển, do có nh ững khó ti ếp cân những phụ nữ nạo hút thai trong các cuộc điều tra dân số nên nghiên cứu về nạo hút thai chưa được tiến hành một cách đầy đủ, mới chỉ dừng lại ử nghiên cứu về các phương tiện nạo hút thai.
Thiếu (hông tin về nạo hút thai là hiện tượng thường thấy ở các nước dang phất triển, cho dù ở một số các nước này, nạo thai được coi là hợp pháp. Tại Hội nghị Dân số thế giới tổ chức ở 4 Cairo - Ai cập tháng 9/1994, vấn đề nạo thai cũng đã được bàn đến và giảm tỷ lê nạo hút thai được coi như là một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình Dân số - KHHGĐ. Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới, mỗi năm trên thế giới có khoảng 20 triệu trường hợp nạo thai (16). Tại khu vực Đông Nam Á, hàng năm có 4,2 tri ệu tr ường h ợp nạo phá thai, cao nhất là Indonesia và Việt Nam với con số 1,2 triệu tới 1,5 triệu mỗi năm (36).
Luật pháp của các nước trên thế giới điều chỉnh hành vi nạo hút thai c ủa ng ười phụ nữ nói chung trải dài trên một trục với 1 cực là câm gần như hoàn toàn việc nạo thai và cực kia coi nạo thai như là quyền của người phụ nữ mang thai. Đối với các quốc gia và lãnh thổ có trên 1 triệu dân và có luật pháp cho phép nạo hút thai theo từng mức độ khác nhau, theo Stanley Henshaw, phó giám đốc Viện nghiên cứu “The Alan Gưttmacher Newyork” có thể chia làm 4 nhóm lớn (38)( Phụ lục 1 - bảng 2 ). Nhóm 1 : 53 quốc gia với 25% dân số thế giới rơi vào nhóm giới hạn nhiều nhất. Nạo hút thai chỉ được cho phép nếu nó nhằm mục đích cứu sống người phụ nữ mang thai.
Nhóm 2 : gổm 42 quốc gia, với 12% dân số thế giới, cho phép nạo hút thai vì những lý do y tế rộng rãi như : để tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ người phụ nữ nói chung ( không nhất thiết chỉ giới hạn bởi mối đe doạ đến tính mạng ), trong trường hợp người phụ nữ bị hiếp dâm, hoặc thai nghén là kết quả của hành vi loạn luân. Nhóm 3 : gồm 14 quốc gia với 23% dân số thế giới, cho phép nạo hút thai theo các chỉ định xã hội hoặc y - xã hội. Tức là người phụ nữ có thể nạo thai nếu họ có lý do cho thây rằng việc mang thai sẽ có những điều kiện bất lợi cho họ về mặt xã hội hoặc vể mặt sức khoẻ. 5 Nhóm 4 : gồm 23 quốc gia với 40% cho phép nạo thai theo nguyện vọng c ủa người phụ nữ, Việt Nam nằm trong nhóm nước thứ hr.
Một số nước đòi hỏi người phụ nữ có chồng phải được sự đồng ý c ủa ch ồng thì mới được nạo hút thai ( nhu' Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ ). Trong tr ường h ợp ng ười n ạo thai chưa chồng, lại ít tuổi thì pỉiải có ý kiến của cha mẹ. ơ Hoa Kỳ thì có những bang như Missourin, Pennsylvania, Kentucky và North Dakota tiếp tục cấm nạo thai tại các bệnh viện của nhà nước, trong khi 14 bang khác cho phép nạo thai nhưng với những phụ nữ dưới 18 tuổi chưa ch ổng thì cha m ẹ ph ải đ ược thông báo hoặc đồng ý. Những bang còn lại cởi mở hơn trong vâìi đề nạo hút thai.
ơ Ân độ và Singapore nạo hút thai chủ yếu là phụ nữ có chồng và lý do chính là muốn giãn khoảng cách giữa các lần sinh hoặc thôi không sinh con.Henshaw cho rằng xu hướng tự do hoá nạo hút thai bằng luật pháp đang tiếp tục trên thế giới. Hàng loạt cấc yếu tố tác động đến việc tự do hoá nạo hút thai như những người phụ nữ hoặc các cặp vợ chổng quan tâm hơn đến việc kiểm soát sự sinh con của họ, hay như vai trò và quyền của người phụ nữ ngày càng được tăng cường, và yếu tố quan trọng khác nữa là áp lực dân số, sẽ thúc đẩy các quốc gia sửa đổi một phẩn hoặc bãi bỏ các điều luật ngăn câm nạo hút thai. Henshaw khi xem xét vấn đề tuổi thai khi nạo cũng đưa ra một nhận xét rất đáng chú ý. Đó là những phụ nữ trẻ hơn 20 tuổi thường đi nạo thai mu ộn h ơn so v ới những phụ nữ cao tuổi hơn.
Và số phụ nữ hơn 40 tuổi nạo thai muộn đông hơn phụ nữ 35-39 một chút. Thêm vào đó trình độ học vấn thấp mà người phụ nữ có được cũng gắn với việc chậm nạo thai. Tất nhiên việc nạo thai muộn cũng có thể do việc nghi ngờ ho ặc xác định được thai khuyết tật. 6 Tuổi của nhóm phụ nữ có hành vi nạo hút thai dàn trải từ 14 cho đến trên 45 tuổi, độ tuổi dưới 19 đến 24 tuổi chiếm tỷ lệ đông hơn cả ở Mỹ, Scotland, Newzealand, Anh, Canada; Trong khi ở các nước Bungary, Tiệp khắc (cũ), Tây đ ức, Ân đ ộ, Nh ật b ản, Singapore.
thì nhóm phụ nữ nạo hút thai chủ yếu rơi vào độ tuổi 20-29. Với các số liệu đã có về tình trạng gia đình của nhóm nạo hút thai tại một số quốc gia, s. Henshaw đã chí ra khuynh hướng là tại Mỹ và một số nước phát triển nói tiếng Anh (lại Hà Lan và các nước Scandinavia) tỷ ]ệ phụ nữ chưa chồng nạo thai khá cao trên 60% số người nạo. Tại Đúc, Pháp con số này thấp hơn chút ít.
Còn tại các nước khác (mà đã có số liệu) bơn 2/3 phụ nữ có hành vi nạo hút thai đã có chổng. Bảng số liệu sau đây giúp ta nhìn rõ hơn khuynh hướng đó. Bảng : Tỷ lệ phân bố của phụ nữ nạo thai (heo tình trạng hôn nhân trên thế giời (%) TN 1 nước : Hiện có Dá từng Chua lùng •Jung (%) chổng có chồng kẻt hòn Bungari 78,3 21,7 100 Canada 24,5 8,2 67,3 100 Tiệp Khắc (cũ) 77,6 7,9 14,4 100 Đan Mạch 33,6 7,4 59,0 100 Anh Quốc 24,8 9,8 65,4 100 Phán Lan 32,5 9,3 58,1 100 Pháp 42,2 9,2 48,6 100 Tây Đức 48,4 6,0 45,7 100 Hungary 68,1 10,7 21,2 100 Ân Độ 92,8 1,3 5,9 100 Italy 67,6 3,5 28,9 100 Hà Lan 34,4 9,3 56,2 100 Newzealand 27,7 13,2 59,1 100 Na uy 39,1 6,6 54,3 100 Scottland 23,0 11,6 65,4 100 Singapore 68,7 2,5 28,8 100 Thuỵ Điển 35,8 10,5 53,7 100 Hoa Kỳ 16,7 83,3 100 (Nguồn : s. Henshaw - induced Abortion.
Table 7) 7 Theo Henshaw nhóm phụ nữ chưa chồng nạo thai vì chưa mong muốn có con đầu lòng. Trong khi nhóm phụ nữ có chổng nạo thai vì không mu ốn sinh con mau quá ho ặc không muốn đẻ nữa. ở các nước phát triển nói tiếng Anh thì nạo hút thai chủ yếu có ở phụ nữ trẻ. Còn tại các nước Trung Âu và Đông Âu các phụ nữ trẻ không chồng cũng thường có thai ngoài hôn nhân nhưng họ thường cưới chồng và để sinh con.
Ở Nhạt Bản và Tuynisia vi ệc mang thai trước hôn nhân ít cho nên việc nạo hút thai ngoài hôn nhân cũng ít. Những phụ nữ đã có chồng ở Nhật Bản ít sử dụng thuốc tránh thai và các phương pháp đình sản do đó dây là nhóm thường hay nạo thai nhất ở Nhật Bản. Tại Bungary và Tiệp Khắc (cũ) tình trạng cũng tương tự như vây. Trong vòng 5 năm tù' 1986 đến 1990 đã có thay đổi nhất định trong cơ cấu tuổi của nhóm nạo hút thai.
Thí dụ tại Newzealand trong khi tỷ lệ nạo thai ở thiếu niên ổn định thì tỷ lệ nạo hút thai ỏ' nhóm khác tăng mạnh. Tỷ lệ nạo hút thai ở thanh thiếu nữ cũng giảm so với phụ nữ ở các nhóm tuổi cao hơn tại Canada, Đan mạch , Phân Lan và Hungary. Tình hình nạo hút thai ở Việt Nam ở Việt Nam nạo hút thai được cho phép từ những năm 1970 (15). Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực đang phải đối đầu v ới tình tr ạng gia tăng các ca nạo hút thai.
Theo Bộ y tế mỗi năm nước ta có xâp xỉ 1,3 triệu ca nạo hút thai so với xấp xỉ 1,3 triệu ca sinh. Nhu' vậy cú' 1 trường hợp sinh có 1 trường hợp nạo hút. Có một điều ngịch lý là những năm gán đây lý lệ số người chấp nhận các biện pháp tránh thai càng tăng thì tỷ lệ nạo hút thai cũng tăng. 8 Kiểm soát, sự phất triển dân số là một trong những mục tiêu hàng đầu của nước ta nhằm đảm bảo sự phát, triển ổn định của xã hôi.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII viết : “Giảm tốc độ tăng dân số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân. Tăng kinh phí, phương tiện, cán b ộ, đ ồng th ời th ực hiện đổng bộ các biện pháp để đẩy mạnh cuộc vân động sinh đẻ cố kế hoạch”. Việc tự do hoá nạo hút thai là một trong những bi ện pháp nh ằm tác đ ộng đ ến mức sinh ở nước ta.