Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức thực thi chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tại trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Chương 2: Thực trạng tổ chức thực thi chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tinh khi sinh tại Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tại Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM THIỂU MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TẠI TRUNG TÂM DÂN SỐ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH HUYỆN 1. Chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh 1.
Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh 1. Khái niệm về mất cân bằng giới tính khi sinh và giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh a. Khái niệm về mất cân bằng giới tính khi sinh Vấn đề dân số luôn được nhà nước ta quan tâm và ban hành nhiều chính sách, pháp luật để điều chỉnh quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Một số năm gần đây, MCBGTKS ở nước ta diễn ra với tốc độ nhanh, ngày càng lan rộng và đã đến mức báo động.
MCBGTKS không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cá nhân, gia đình, các dòng tộc mà còn trở thành rào cản đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Khái niệm về MCBGTKS đã được Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2013 đưa ra trong “Tài liệu tập huấn về truyền thông giảm thiểu mất cân bằng giới tính” như sau: “Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ”[4,tr12]. “Tỷ số giới tính khi sinh là số bé trai được sinh ra trên 100 bé gái được sinh ra trong một khoảng thời gian và một địa bàn nhất định.
Ở mức cân bằng tự nhiên, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 105/100 (dao động trong khoảng 104-106/100)”[5,tr4]. Khái niệm về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh 10 Từ trước đến nay, vẫn chưa có khái niệm chính thức về giảm thiểu MCBGTKS. Thông qua thực tiễn nghiên cứu, tác giả đã đưa ra khái niệm về giảm thiểu MCBGTKS như sau: Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh là hoạt động can thiệp của nhà nước thông qua chính sách và biện pháp cần thiết ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi để bảo đảm cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên, điều chỉnh mức sinh nhằm tạo cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi. Mục đích của giảm thiểu MCBGTKS là nghiêm cấm lựa chọn giới tính khi sinh nhằm bảo đảm cân bằng giới tính giữa nam và nữ, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển xã hội lành mạnh, tạo dư luận xã hội ủng hộ và xoá dần sự phân biệt giữa con trai và con gái trong tiềm thức của người dân, ngăn chặn tình trạng phá thai vì lý do lựa chọn giới tính, bảo đảm sự cân đối về số lượng giữa nam và nữ, tạo sự ổn định và phát triển bền vững.
Nguyên nhân và hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh a. Nguyên nhân Kết quả các nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam cho thấy, có ba nhóm nguyên nhân dẫn tới tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh như sau: - Nhóm nguyên nhân cơ bản: + Việt Nam là một quốc gia châu á có nền văn hoá truyền thống, trong đó tư tưởng nho giáo đóng vai trò chủ đạo. Tâm lý ưa thích con trai đặt nặng cho mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình và mỗi dòng họ. + Hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là ở các khu vực nông thôn.
Người già hầu hết không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế. Tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, người già cảm thấy lo lắng cho tương lai và bất an khi về già nếu không có con trai. + Do nhu cầu phát triển kinh tế hộ gia đình: Ở nhiều vùng nông thôn, các công việc nặng nhọc đều đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới. Chính vì vậy, con trai vừa là trụ cột về tinh thần, vừa là trụ cột về kinh tế cho cả gia đình.
- Nguyên nhân phụ trợ: 11 + Qui mô gia đình nhỏ cũng tạo áp lực giảm sinh, khi mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1-2 con. Việc có ít con nhưng lại mong muốn có con trai. + Chính sách giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới chưa thật thỏa đáng cũng góp phần thúc đẩy một số phụ nữ chủ động tìm kiếm các dịch vụ lựa giới tính trước sinh. - Nguyên nhân trực tiếp: + Lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực thi lựa chọn giới tính trước sinh như: Áp dụng một số kỹ thuật trước lúc có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn…), trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…), hoặc sau khi đã có thai (sử dụng siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính thai nhi, kết hợp với phá thai chọn lọc giới tính.
+ Chưa thực thi tốt pháp luật liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi. Tại Điều 40, Khoản 7, Mục b của Luật Bình đẳng Giới[19]. Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh gây ra như sau [5,tr15-16]: - Đối với gia đình: Nam giới ở độ tuổi trưởng thành khó có cơ hội lấy được người vợ mong muốn, phải sống độc thân. Người vợ phải cố sinh thêm con trai do bị sức ép từ phía gia đình và người chồng hoặc phải nạo phá thai vì lý do lựa chọn giới tính sẽ ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của người phụ nữ và sự phát triển bền vững kinh tế gia đình.
- Đối với xã hội: + MCBGTKS sẽ gây ra những khó khăn thách thức mới đối với công tác dân số như: Phải tốn thêm nhiều nguồn lực cho các nghiên cứu để nắm được thực trạng TSGTKS tăng cao. + Gây ra những bất ổn về trật tự an toàn ở cộng đồng, làm gia tăng tệ nạn mại dâm, buôn bán trẻ em gái, phụ nữ và các loại tội phạm xã hội khác. MCBGTKS làm gia tăng thêm bất bình đẳng giới. Tỷ lệ tảo hôn, ly hôn và tái hôn của nữ giới sẽ tăng 12 cao.
Tình trạng bạo hành giới, tình trạng buôn bán phụ nữ vào các cơ sở mại dâm có thể sẽ gia tăng. Chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh Căn cứ theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11; Nghị quyết số 47- NQ/TW của bộ chính trị [22]; Pháp lệnh dân số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 [26]; Pháp lệnh sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh dân số của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 15/2008/PL-UBTVQH12 ngày 27/12/2008 [27]; Nghị định 114/CP về quy định xử lý vi phạm hành chính về thực thi chính sách DS-KHHGĐ [23]; Nghị định 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số [21]; Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/08/2008 của Thủ tướng chính phủ về việc đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ “Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng việc thử nghiệm, nhân rộng các mô hình, giải pháp can thiệp về kỹ thuật, về kinh tế và xã hội, góp phần kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh và nâng cao chất lượng dân số,…”[17]; Đề án can thiệp giảm thiểu MCBGTKS giai đoạn 2009- 2013 của Tổng cục DS-KHHGĐ với quan điểm chỉ đạo: Thực thi chính sách giảm thiểu MCBGTKS là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những yếu tố hàng đầu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Giải quyết đồng bộ MCBGTKS nhằm nâng cao chất lượng dân số; Giải pháp cơ bản để thực thi giảm thiểu MCBGTKS là truyền thông, giáo dục, vận động, chuyển đổi hành vi gắn với cung cấp dịch vụ theo hướng dự phòng tích cực, đảm bảo công bằng, bình đẳng giới và quyền của người dân trong việc tiếp cận thông tin và lựa chọn dịch vụ có chất lượng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá và tập quán của người dân ở các vùng khác nhau; Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, huy động sự tham gia của toàn xã hội, kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy thực thi chính sách bảo đảm tổ chức thực thi có hiệu quả chính sách này. Mục tiêu của chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh a. Mục tiêu của chính sách - Mục tiêu tổng quát: Ổn định cân bằng giới tính khi sinh, góp phần ổn định cơ cấu dân số, nâng cao chất lượng dân số, nâng cao vị thế phụ nữ trong xã hội gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phát triển cộng đồng.
- Mục tiêu cụ thể: Khống chế tốc độ gia tăng MCBGTKS: + Đưa TSGTKS về mức cân bằng tự nhiên dao động trong khoảng 104-106 trẻ trai/100 trẻ gái. + Nâng cao nhận thức của người dân về chính sách giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh thông qua hoạt động truyền thông về giới và MCBGTKS. + Đảm bảo việc phổ biến và tuân thủ pháp luật liên quan đến giới tính khi sinh + Khuyến khích, hỗ trợ về kinh tế và các biện pháp kỹ thuật về dịch vụ DS- KHHGĐ b. Vai trò của chính sách Chính sách giảm thiểu MCBGTKS nhằm ngăn chặn việc sử dụng mọi loại hình để lựa chọn giới tính thai nhi, tăng cường tính hiệu lực trong tổ chức thực thi chính sách nhằm nâng cao năng lực của các cơ quan giám sát, thực thi pháp luật giúp hạn chế tối thiểu những hậu quả do MCBGTKS.