CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. KHÁI NIỆM VỀ SỰ GẮN KẾT CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI TỔ CHỨC 1.1 Khái niệm Có nhiều cách tiếp cận trong các nghiên cứu về sự gắn của nhân viên với tổ chức. Gắn kết có thể là một yếu tố thành phần của cam kết tổ chức, cũng có thể là một khái niệm độc lập. Meyer và Allen (1990) chú trọng ba trạng thái tâm lý của nhân viên khi gắn kết với tổ chức.
Nhân viên có thể gắn kết với tổ chức xuất phát từ tình cảm thật sự của họ: “Họ sẽ ở lại với tổ chức dù có nơi khác trả lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn, họ có thể gắn kết với tổ chức chỉ vì họ không có cơ hội kiếm được công việc tốt hơn và họ có thể gắn kết với tổ chức vì những chuẩn mực đạo đức mà họ theo đuổi” [11]. Mowday and Steers (1979) “sự gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là một sự kiên định mạnh mẽ (nhất quán hay bất di bất dịch) của một cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể” [14]. Theo O’Reilly và Chatman (1986) “gắn kết với tổ chức được xem như là trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân hấp thu hay chấp nhận những đặc điểm của tổ chức” [14], Theo Kalleberg etal (1996) gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự sẳn lòng dành hết nỗ lực cho tổ chức, sự gắn bó chặt chẻ với tổ chức và tìm kiếm để duy trì mối quan hệ với tổ chức, còn theo Mathieu và Zajac (1990) gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự ràng buộc hay liên kết giữa các các nhân và tổ chức. Ở Việt Nam gần đây có nghiên cứu của Trần Thị Kim Dung, 2005 “các tổ chức sẽ có được sự gắn kết của nhân viên bằng cách thỏa mãn các khía cạnh khác nhau của nhu cầu liên quan đến công việc như: Bản chất công việc, Cơ hội Luan van 9 đào tạo và thăng tiến, Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Tiền lương, Phúc lợi, Điều kiện làm việc"[1].
Một số nhà quản lý cho rằng các tổ chức muốn có một nhân viên ngôi sao trong ba năm còn hơn có một nhân viên ở lại với tổ chức suốt đời nhưng lực kém cỏi. Tuy nhiên, quan điểm mới về sự gắn kết vẫn chưa phổ biến rộng rãi ở các tổ chức và còn gặp khó khăn trong việc đo lường. Vì vậy, nghiên cứu này vẫn sử dụng định nghĩa về sự gắn kết của Mowday and Steers (1979), cùng với thang đo sự gắn kết nhân viên của Meyer và Allen(1990).2 Các thành phần của sự gắn kết với tổ chức Mỗi nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về gắn kết với tổ chức do vậy mà có những thành phần khác nhau để đo lường khái niệm này: + Mowday, Porter và Steer (1979) với 3 thành phần của sự gắn kết: - Sự gắn bó hay nhất quán: có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu, giá trị của tổ chức. - Lòng trung thành: mong muốn một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổ chức.
- Sự dấn thân: dấn thân vào các hoạt động của tổ chức, và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức. + O’reilly và Chapman (1986) đề xuất 3 thành phần của sự gắn kết : - Sự phục tùng (Compliance): sự dấn thân vì những phần thưởng đặc biệt. - Sự gắn bó (Identification): sự gắn bó vì mong muốn hội nhập với tổ chức. - Sự chủ quan (Internalisation): sự dấn thân do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân với giá trị của tổ chức.
(2002) để xuất 3 thành phần của sự gắn kết: Luan van 10 - Sự gắn kết vì tình cảm: là sự gắn bó lâu dài, đồng nhất hoàn toàn với các mục tiêu và giá trị của tổ chức, là mong muốn được trở thành một thành viên của tổ chức. - Sự gắn kết vì lợi ích: được định nghĩa như là một hiện tượng mang tính cơ cấu diễn ra từ sự trao đổi giữa tổ chức với cá nhân và sự thay đổi, đánh cược của nhân viên về tương lai của mình. Một cách đơn giản, đây là sự gắn kết được tạo nên từ những tổn thất mà nhân viên sẽ gánh chịu nếu không tiếp tục ở lại với tổ chức. - Sự gắn kết vì đạo đức: phản ánh một ý thức trách nhiệm của nhân viên để tiếp tục ở lại với tổ chức, sự gắn kết này xét đến sự hòa hợp, ảnh hưởng lẫn nhau giữa nhân viên với tổ chức.
+ Mayer và Schoorman (1992) đề xuất 2 thành phần - Giá trị: Niềm tin và sự chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức và sự sẳn sàng nỗ lực cho tổ chức. - Sự duy trì: mong muốn duy trì vai trò thành viên của tổ chức. + Jaros et al (1993) đề xuất 3 thành phần: - Tình cảm: mức độ mà một cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với tổ chức thông qua những cảm giác như lòng trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, nhiệt tình vì tổ chức, hài lòng và cảm thấy mình thuộc về tổ chức. - Sự duy trì: mức độ mà cá nhân cảm thấy phải gắn bó với tổ chức vì họ cảm thấy mất mát quá nhiều thứ nếu rời bỏ tổ chức.
- Sự gắn kết vì đạo đức: mức độ mà cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với tổ chức thông qua việc tiếp thu mục tiêu, giá trị và sứ mạng của tổ chức. Luan van 11 Bảng 1. Tổng kết các thành phần của gắn kết với tổ chức Thành O’reilly & Mayer& Jaros Mowday phần gắn Chapman Meyer et Schoorman et al. ,Porter kết (1986) al (2002) (1992) (1993) và Steer Giá trị X Duy trì x X X Phục tùng x Gắn bó x Chủ quan x Đạo đức x X Tình cảm x X Nhất quán x Trung thành x Dấn thân x (X): thành phần được các nhà nghiên cứu sử dụng cho công trình nghiên cứu của mình.3 Đo lường mức độ gắn kết của nhân viên với tổ chức Mức độ gắn kết của nhân viên với tổ chức theo quan điểm của Meyer và Allen(1990) được đo lường bằng 3 thành phần sau: a.
Đo lường mức độ gắn kết với tổ chức vì tình cảm Mức độ gắn kết với tổ chức vì tình cảm được đo lường dựa trên các tiêu thức: (1) Xem tổ chức như mái nhà thứ hai (2) Tự hào vì được làm việc trong tổ chức (3) Vui mừng vì đã chọn tổ chức để làm việc (4) Tổ chức có ý nghĩa rất quan trọng (5) Cảm nhận là thành viên của tổ chức Luan van 12 (6) Cảm nhận thuộc về tổ chức … b. Đo lường mức độ gắn kết với tổ chức để duy trì Mức độ gắn kết để duy trì được đo lường dựa trên các tiêu thức: (1) Việc ở lại tổ chức bây giờ là cần thiết (2) Việc rời khỏi tổ chức lúc này là khó khăn (3) Cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều khi rời bỏ tổ chức (4) Khó kiếm việc làm khác khi rời bỏ tổ chức … c. Đo lường mức độ gắn kết vì đạo đức Mức độ gắn kết vì đạo đức được đo lường dựa trên các tiêu thức: (1) Cảm nhận trách nhiệm đối với tổ chức (2) Cảm nhận trách nhiệm đối với mọi người trong tổ chức.4 Lợi ích của việc xây dựng, duy trì sự gắn kết và vai trò của nhân viên giỏi đối với tổ chức Giá trị sự gắn kết của nhân viên là cực kỳ to lớn, giảm thiểu chi phí thay đổi nhân viên chỉ là một ví dụ nhìn thấy được, lợi ích của việc giữ lại những nhân viên có kinh nghiệm, đáng tin cậy là vô giá. Cũng cần phải lưu ý những nhà quản trị ở ngoài 40 tuổi rằng những điều làm cho nhân viên gắn kết ngày nay rất khác với những gì khiến cho chúng ta gắn kết với tổ chức ngày hôm qua.
Thâm niên công tác, kinh nghiệm làm việc, sự ổn định của tổ chức sẽ là những điều chúng ta nghĩ tới đầu tiên, nhưng vượt ra ngoài kinh nghiệm cá nhân sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về lợi ích đối với tổ chức của việc xây dựng và duy trì sự gắn kết của nhân viên trong bối cảnh ngày nay: (1) Về mặt doanh thu: Các nhân viên gắn kết với tổ chức có khuynh hướng làm việc tốt hơn cả những gì tổ chức mong đợi và luôn có tinh thần làm việc cao ở khả năng tốt nhất của họ. Cả hai đặc điểm này đều rất quan trọng trong việc giữ lại cho tổ chưc những khách hàng trung thành và đem về doanh thu cao. Luan van 13 (2) Về mặt chi phí: Những nhân viên gắn kết sẽ ở lại làm việc với tổ chức lâu dài, từ chối những lời chào mời từ đối thủ, không chủ động tìm công việc mới và luôn giới thiệu tổ chức của mình là những chỗ làm tốt. Cả bốn thái độ này đều có ảnh hưởng tích cực đến phía cột chi phí trong bảng cân đối kế tóan của tổ chức, vì tổ chức sẽ tránh được những khỏan chi phí đáng kể cho việc thay thế nhân viên.
Nói cách khác, thay vì chỉ tập trung vào việc níu giữ nhân viên (cố gắng giữ lại những nhân viên đã quyết định nghỉ việc), các nhà quản trị cần tích cực và chủ động hơn nữa trong việc thừa nhận những lợi ích của việc tìm hiểu, quản lý và tăng cường sự gắn kết của nhân viên với tổ chức. Như vậy, mặc dù sự gắn kết của nhân viên với tổ chức được thừa nhận là hai trong số những nhân tố mang tính quyết định nhất đối với sự thành công của tổ chức, vẫn không có gì ngạc nhiên khi nhận thấy rằng các tổ chức đang phải đối mặt với những thách thức gay gắt về việc phát triển một đội ngũ nhiệt huyết và tận tụy. Bên cạnh những lợi ích mà đối với tổ chức của việc xây dựng và duy trì sự gắn kết của nhân viên thì nhân viên giỏi còn có những giá trị nhất định đối với tổ chức như: (1) Là cơ sở hình thành ý tưởng cho sự phát triển: trong thời đại Công Nghiệp, tài sản vật chất như máy móc, nhà máy và đất đai… quyết định khả năng cạnh tranh của một tổ chức. Trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri thức toàn cầu - nguồn tri thức là những gì quyết định lợi thế cạnh tranh.