chương 1 tác giả đã nêu lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, đồng thời xác định mục tiêu nghiên cứu để làm cơ sở cho câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời nhận diện đối tượng và phương pháp nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2.1 Tổng quan hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam Theo khảo sát của Cục thương mại điện tử và công nghệ thông tin với hơn 1000 người có truy cập internet trong cả nước trong năm 2016 thì có 65% người dùng tham gia mua hàng trực tuyến, thời gian truy cập internet nhiều nhất từ lúc 20 giờ đến 24 giờ là 51% người dùng.1: Thời điểm người dùng internet thường xuyên trong ngày (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2017) Việc tìm kiếm thông tin của người mua hàng trực tuyến bằng thiết bị di động chiếm tỷ lệ cao nhất là 79%.2: Cách thức tìm kiếm thông tin của người mua hàng trực tuyến (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2017) 6 Tuy nhiên hình thức đặt hàng trực tuyến bằng máy tính để bàn, máy tính xách tay lại chiếm tỷ lệ cao hơn so với đặt hàng bằng thiết bị di động. Để đặt hàng trực tuyến, có 72% người dùng máy tính so với 68% người dùng điện thoại và 18% người dùng các thiết bị di động khác.3: Phương tiện điện tử được sử dụng khi đặt hàng trực tuyến (Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2017) Theo kết quả khảo sát của Dream Incubator Inc.
năm 2016 thì các trang web thương mại trực tuyến Lazada.vn và Sendo.vn được biết nhiều nhất với tỷ lệ người biết tương ứng lần lượt là 78%, 58% và 52%. Trong đó trang web Lazada.vn có tỷ lệ mua thường xuyên cao nhất là 33% tại Hà Nội so với 23% tại TP. Hồ Chí Minh, còn tại TP. Hồ Chí Minh thì trang web Tiki.vn được mua thường xuyên nhất với tỷ lệ 28% so với tỷ lệ 16% tại Hà Nội.
Hình thức thanh toán phổ biến được lựa chọn là tiền mặt khi nhận hàng với 89% người mua hàng trực tuyến sử dụng, tiếp sau đó là thẻ ATM nội địa với tỷ lệ 41%, thẻ tín dụng/ thẻ ghi nợ là 23% và thấp nhất là sử dụng ví điện tử với tỷ lệ 5% người mua hàng trực tuyến (theo Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2017).2 Các khái niệm liên quan 2.1 Trang phục Trang phục là những đồ để mặc như quần, áo được dùng để đội như nón, khăn và để đi như giày, dép, ủng. Ngoài ra, trang phục còn có thể là thắt lưng, găng tay, đồ trang sức. Chức năng cơ bản nhất của trang phục là bảo vệ thân thể. Tiếp đó, trang phục cũng có chức năng thẩm mỹ, làm đẹp cho con người.2 Hành vi mua hàng 2.1 Khái niệm Theo Kotler (2007) hành vi người tiêu dùng là “Một tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ nhận biết nhu cầu cho tới khi mua và sau khi mua sản phẩm”.
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ hành vi của người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm… đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng. Trong khi đó theo hai tác giả Churchill và Peter (1998) thì “Hành vi người tiêu dùng là những hoạt động của con người khi tham gia vào việc lựa chọn, tìm kiếm, mua, sử dụng và loại bỏ sản phẩm và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ”.2 Quá trình ra quyết định mua hàng của người tiêu dùng Quá trình mua của người tiêu dùng là một vấn đề phức tạp với nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến quyết định mua của người tiêu dùng.
Theo Kotler và Armstrong (2007) thì người mua trải qua một tiến trình gồm năm giai đoạn để đưa ra quyết định mua một sản phẩm hay nhãn hiệu, đó là: nhận biết nhu 8 cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá sự lựa chọn, quyết định mua hàng và hành vi sau khi mua hàng. Nhận biết Tìm kiếm Đánh giá sự Quyết định Hành vi sau nhu cầu thông tin lựa chọn mua hàng khi mua hàng Hình 2.4: Quá trình ra quyết định của người mua (Nguồn: Kotler và Amrstrong, 2007) Nhận biết nhu cầu: Quá trình mua khởi đầu với việc người mua nhận thức được một vấn đề hay một nhu cầu. Người mua cảm nhận được sự khác biệt giữa tình trạng thực tế của mình và một số trạng thái mong muốn. Điều này thúc đẩy người tiêu dùng bắt đầu quá trình mua với nhiều lý do khác nhau như sự không hài lòng từ sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại, muốn và mong muốn sản phẩm mới.
Sự nhận biết có thể được kích hoạt bởi các kích thích bên trong khi một nhu cầu bình thường như đói, khát tăng lên đến một mức độ đủ cao để trở thành một sự thôi thúc. Một nhu cầu cũng có thể được kích hoạt bởi các kích thích bên ngoài như một chương trình quảng cáo về một sản phẩm, mùi hương hay nhãn hiệu nào đó, sẽ gợi mở cho khách hàng nhận biết một vấn đề hay nhu cầu. Tìm kiếm thông tin: Khi nhu cầu thôi thúc thì con người tìm kiếm thông tin về sản phẩm, dịch vụ. Người tiêu dùng có thể lấy thông tin từ các nguồn: - Nguồn thông tin cá nhân: Bạn bè, gia đình, hàng xóm, người quen, … - Nguồn thông tin thương mại: Quảng cáo, nhân viên bán hàng, triển lãm, bao bì, internet… - Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng, … - Nguồn thông tin dựa trên kinh nghiệm: Tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, sử dụng sản phẩm.
Ảnh hưởng của những nguồn thông tin này khác nhau tùy theo loại sản phẩm và đặc điểm người mua. Người tiêu dùng nhận được nhiều thông tin nhất về một sản 9 phẩm từ nguồn thông tin thương mại. Mặt khác nguồn thông tin cá nhân là nguồn có hiệu quả nhất. Nguồn thông tin thương mại thường thực hiện chức năng thông báo, còn nguồn thông tin cá nhân thì thực hiện chức năng khẳng định hay đánh giá.
Đánh giá sự lựa chọn: Là giai đoạn của quá trình ra quyết định trong đó người tiêu dùng sử dụng thông tin để đánh giá các thương hiệu được lựa chọn. Người tiêu dùng xử lý thông tin như thế nào để đưa ra các lựa chọn thương hiệu khác nhau? Người tiêu dùng không sử dụng một quá trình đánh giá duy nhất trong các tình huống lựa chọn thương hiệu. Một số khái niệm cơ bản giúp ta hiểu được quy trình đánh giá của người tiêu dùng. Người tiêu dùng cố gắng đáp ứng một số nhu cầu của mình và tìm kiếm lợi ích nhất định bằng cách mua sản phẩm hay dịch vụ.
Mỗi người tiêu dùng xem một sản phẩm như là một tập hợp các thuộc tính với khả năng khác nhau đem lại những lợi ích tìm kiếm và thỏa mãn nhu cầu. Những thuộc tính mà người mua quan tâm thay đổi tùy theo sản phẩm. Mỗi thuộc tính có mức độ quan trọng khác nhau đối với người tiêu dùng khác nhau. Có sự khác biệt giữa tầm quan trọng của một thuộc tính và sự nổi bật của nó.
Người tiêu dùng sẽ chú ý đến các thuộc tính nổi bật khi nghĩ đến đặc điểm của sản phẩm. Nhưng đây không phải là những thuộc tính quan trọng nhất đối với người tiêu dùng. Một số thuộc tính có thể nổi bật vì người tiêu dùng vừa xem quảng cáo có đề cập đến chúng. Có những thuộc tính mà người tiêu dùng đã quên, nhưng khi được nhắc đến thì được công nhận là quan trọng.
Các nhà tiếp thị nên quan tâm nhiều hơn đến tầm quan trọng của các thuộc tính. Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng một tập hợp những niềm tin vào nhãn hiệu, khi mỗi nhãn hiệu được đánh giá theo từng thuộc tính. Tập hợp những niềm tin vào nhãn hiệu cụ thể tạo nên hình ảnh nhãn hiệu. Niềm tin của người tiêu dùng có thể thay đổi dựa trên kinh nghiệm của họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có chọn lọc và ghi nhớ có chọn lọc.
10 Người tiêu dùng cho là có chức năng hữu dụng cho mỗi thuộc tính. Chức năng hữu dụng thể hiện người tiêu dùng mong muốn sự thỏa mãn về sản phẩm thay đổi theo mức độ khác nhau của các thuộc tính khác nhau như thế nào. Người tiêu dùng hình thành các thái độ đối với các nhãn hiệu khác nhau qua một phương thức đánh giá. Người ta phát hiện thấy rằng người tiêu dùng áp dụng những phương thức đánh giá khác nhau để lựa chọn những đối tượng nhiều thuộc tính.
Quyết định mua: Sau khi đánh giá các lựa chọn người tiêu dùng đã có những nhãn hiệu lựa chọn được sắp xếp theo thứ tự, ý định mua thường được dành cho những sản phẩm có thứ hạng cao nhất. Quá trình chuyển từ ý định mua đến quyết định mua còn chịu sự chi phối của những yếu tố khác. Thái độ của người khác Đánh giá các Quyết Ý định mua lựa chọn định mua Tình huống bất ngờ Hình 2.5: Những yếu tố kiềm hãm quá trình biến ý định mua hàng thành quyết định mua hàng (Nguồn: Kotler và Amrstrong, 2007) Thái độ của người khác như gia đình, bạn bè, … có thể làm giảm sự lựa chọn ưu tiên của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó, là mức độ tiêu cực của thái độ mà người khác có đối với lựa chọn của khách hàng và mức độ mà người tiêu dùng sẵn sàng tiếp nhận ý kiến của người khác. Ý định mua hàng cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tình huống bất ngờ.
Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng dựa trên các yếu tố như thu nhập gia đình dự kiến, giá dự kiến và lợi ích kỳ vọng từ sản phẩm. Khi người tiêu dùng sắp 11 hành động thì các yếu tố tình huống bất ngờ có thể xuất hiện để thay đổi ý định mua hàng. Do đó sở thích và thậm chí cả ý định mua hàng không phải lúc nào cũng dẫn đến lựa chọn mua thực sự. Quyết định của người tiêu dùng thay đổi, trì hoãn hoặc hủy bỏ quyết định mua bị ảnh hưởng bởi nhận thức rủi ro.