Phần mở đầu, luận văn gồm các chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Giớí thiệu z 8 - Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Khái niệm Thƣơng hiệu, vai trò và chức năng của thƣơng hiệu Các yếu tố của thƣơng hiệu: hình ảnh thƣơng hiệu, trải nghiệm thƣơng hiệu và tính chân thật của thƣơng hiệu. Các nghiên cứu liên quan Giả thuyết và Mô hình nghiên cứu đề xuất - Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng 5: Kết luận Hàm ý quản trị và ý nghĩa z 9 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT GIỚI THIỆU: Chƣơng 2 trình bày những nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan để làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu này. Nhiều thuật ngữ, khái niệm ở chƣơng này đƣợc sử dụng cho những chƣơng khác.
Tác giả cũng đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình ở chƣơng này. KHÁI QUÁT VỀ THƢƠNG HIỆU 2. Khái niệm Thƣơng hiệu là một khái niệm liên quan đến ngƣời tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lƣợng và xuất xứ của sản phẩm. Thƣơng hiệu gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và chỉ đƣợc ủy quyền cho nhà đại diện thƣơng mại chính thức.
Thƣơng hiệu là một tập hợp những cảm nhận của khách hàng về một công ty, một sản phẩm, hay dịch vụ với đầy đủ các khía cạnh: mô tả nhận diện giá trị, thuộc tính, thƣơng hiệu ràng buộc với ngƣời tiêu dùng qua mối quan hệ thƣơng hiệu- ngƣời tiêu dùng. Thƣơng hiệu đã đƣợc quan tâm, nghiên cứu và vận dụng từ khá lâu trên thế giới, đặc biệt là tại các nƣớc có nền kinh tế phát triển. Khái niệm và nhận thức về thƣơng hiệu có thể chia làm hai quan điểm chính: quan điểm truyền thống và quan điểm tổng hợp. Quan điểm truyền thống cho rằng thƣơng hiệu là một thành phần của sản phẩm và dùng để phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại.
Thƣơng hiệu la một cái tên, một từ, thiết kế, biểu tƣợng hoặc bất kỳ một đặc điểm nào đó để phân biệt sản phẩm hay dịch vụ của đơn vị này với đơn vị khác. Nhƣ vậy, với quan điểm này, có thể thấy thƣơng hiệu đƣợc xem nhƣ là một bộ phận của sản phẩm giúp phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Cụ thể, Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (American Marketing Association) định nghĩa “Thƣơng hiệu là một cái tên, biểu tƣợng, ký hiệu, kiểu dáng hoặc tập hợp các z 10 yếu tố nhằm xác định và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một hoặc một nhóm ngƣời bán với hàng hóa và dịch vụ của đối thủ cạnh tranh”. Quan điểm tổng hợp cho rằng thƣơng hiệu không chỉ là một cái tên hay biểu tƣợng mà nó rộng hơn nhiều, nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi (Davis, 2002).
Nhƣ vậy, theo quan điểm này thì sản phẩm chỉ là một thành phần của thƣơng hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho ngƣời tiêu dùng. Khi mua sản phẩm ngƣời tiêu dùng không chỉ mua lợi ích chức năng để thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn mua lợi ích cảm tính để thỏa mãn nhu cầu tâm lý do chính thƣơng hiệu của sản phẩm có khả năng mang lại loại lợi ích này. Theo Ambler & Styles định nghĩa: “Thƣơng hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thƣơng hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thƣơng hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng.
Nhƣ vậy, các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng là các thành phần của một thƣơng hiệu.” Theo David Aaker (1996): “Thƣơng hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm xúc, trực quan và độc quyền và bạn liên tƣởng đến khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty”. Theo Philip Kotler, thƣơng hiệu là sản phẩm, dịch vụ đƣợc thêm vào các yếu tố để khác biệt hóa với sản phẩm dịch vụ khác cũng đƣợc thiết kế để thỏa mãn cùng nhu cầu. Sự khác biệt này có thể là về mặt chức năng, các yếu tố hữu hình của sản phẩm. Chúng cũng có thể là những yếu tố mang tính biểu tƣợng, cảm xúc, hoặc vô hình mà thƣơng hiệu thể hiện ra.
Tóm lại, dù sử dụng những cách thức khác nhau để thể hiện nhƣng hầu hết các nhà nghiên cứu, cũng nhƣ các nhà kinh doanh trong thực tế, ngày nay đều có chung một thống nhất rằng thƣơng hiệu không chỉ là sản phẩm, mà nó có những yếu tố giúp phân biệt sản phẩm đó với những sản phẩm khác đƣợc thiết kế để đáp ứng cùng một nhu cầu. Những sự khác biệt này có thể là lý tính và hữu hình hoặc cảm tính và vô hình. Quan trọng hơn, thƣơng hiệu có thể tạo ra “giá trị thặng dƣ” cho z 11 sản phẩm hoặc dịch vụ. Chính nhờ “giá trị thặng dƣ” đó mà ngày nay không ít các doanh nghiệp trên thế giới coi các thƣơng hiệu là tài sản lớn nhất mà họ nắm giữ.
Đặc điểm thƣơng hiệu Aaker (1991) quan niệm đặc điểm thƣơng hiệu gồm có 12 khía cạnh thiết lập xung quanh 4 phƣơng diện chủ yếu sau: Thương hiệu như sản phẩm, bao gồm: phạm vi sản phẩm, thuộc tính sản phẩm, chất lƣợng, giá trị, ngƣời sử dụng, nƣớc xuất xứ. Thuộc tính là giá trị cốt lõi sản phẩm và có mối quan hệ trực tiếp với hành vi mua sắm và tiêu dùng của khách hàng. Các thuộc thuộc tính này có thể đƣợc làm tăng giá trị bởi những đặc diểm khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Tuy nhiên thuộc tính sản phẩm không phải là trọng tâm tạo nên đặc điểm thƣơng hiệu mà còn phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ: chất lƣợng, giá trị, ngƣời sử dụng hay nƣớc xuất xứ.
Thương hiệu như tổ chức, bao gồm: thuộc tính tổ chức, địa phƣơng và toàn cầu. Khía cạnh thƣơng hiệu với tƣ cách là một tổ chức tập trung vào những đặc điểm của tổ chức hơn là vào sản phẩm hay dịch vụ. Thuộc tính tổ chức mang lại giá trị bền vững hơn là những đặc tính của sản phẩm riêng lẻ. Thuộc tính về tổ chức là một quá trình hình thành và xây dựng lâu dài để tạo nên một hình ảnh tốt đẹp trƣớc khách hàng và công chúng.
Một doanh nghiệp chú trọng tới thuộc tính môi trƣờng, dẫn đầu công nghệ, quan tâm tới sức khỏe cộng đồng… có thể sẽ nhận đƣợc sự quan tâm và yêu mến từ phía khách hàng và công chúng. Thương hiệu như người, bao gồm: nhân cách thƣơng hiệu, mối quan hệ khách hàng thƣơng hiệu. Ở khía cạnh này, đặc điểm của thƣơng hiệu đƣợc xem xét nhƣ một con ngƣời. Vì vậy, thƣơng hiệu cũng có thể cảm nhận với các cá tính nhƣ vƣợt trội, tính cạnh tranh, độc đáo ấn tƣợng, năng động hay trẻ trung….những cá tính này tạo nên một thƣơng hiệu qua mạnh qua các cách khác nhau.
Khách hàng có thể tự thể hiện bản thân mình qua các cá tính của thƣơng hiệu. Thương hiệu như biểu tượng, bao gồm: hình ảnh trực quan/sự ẩn dụ và di sản thƣơng hiệu. Một biểu tƣợng ấn tƣợng và sâu sắc có thể dễ dàng đƣợc gợi nhớ, chấp z 12 nhận bởi ngƣời tiêu dùng. Việc nhận biết và nhớ đến hình ảnh thƣơng hiệu là một yếu tố nền tảng cho việc sử dụng và trung thành đối với thƣơng hiệu.
Tóm lại, một thƣơng hiệu không nhất thiết phải hội đủ tất cả các khía cạnh nêu trên. Đối với một số thƣơng hiệu, chỉ cần tập trung vào một số khía cạnh thích hợp, làm cho nó nổi bật và khác biệt, làm sao để nó lƣu giữ trong tâm trí của khách hàng là có thể thành công. Phân biệt thƣơng hiệu và nhãn hiệu: Theo luật sở hữu trí tuệ 50/2005/QH11 của Việt Nam : Nhãn hiệu sẽ đƣợc bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: 1) Là dấu hiệu nhìn thấy đƣợc dƣới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, đƣợc thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. 2) Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Chức năng thƣơng hiệu Nhận biết và phân biệt thương hiệu: Khả năng nhận biết đƣợc của thƣơng hiệu là yếu tố không chỉ quan trọng cho ngƣời tiêu dùng mà còn cho cả doanh nghiệp trong quản trị và điều hành hoạt động của mình. Thƣơng hiệu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân đoạn thị trƣờng của doanh nghiệp. Thông qua thƣơng hiệu ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác. Mỗi hàng hóa mang thƣơng hiệu khác nhau sẽ đƣa ra những thông điệp khác nhau dựa trên những dấu hiệu nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và thu hút sự chú ý của những tập hợp khách hàng khác nhau.
Khi hàng hóa càng phong phú, đa dạng thì chức năng nhận biết và phân biệt thƣơng hiệu càng trở nên quan trọng. Do vậy đây là chức năng rất đặc trƣng và quan trọng của thƣơng hiệu. Thông tin và chỉ dẫn: Thông tin mà thƣơng hiệu mang đến luôn rất phong phú và đa dạng. Chức năng thông tin và chỉ dẫn của thƣơng hiệu đƣợc thể hiện thông qua những hình ảnh, ngôn ngữ hoặc các dấu hiệu khác nhằm giúp cho ngƣời z 13 tiêu dùng có thể nhận biết đƣợc những thông tin về nơi sản xuất, giá trị sử dụng và công dụng của hàng hóa.
Đơn cử là câu khẩu hiệu (slogan) trong thƣơng hiệu cũng chứa đựng thông điệp về lợi ích cho khách hàng, đồng thời định vị sản phẩm nhằm vào những thị trƣờng mục tiêu và đối tƣợng khách hàng nhất định. Tạo sự cảm nhận và tin cậy: Thƣơng hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí khách hàng. Khách hàng sẽ lựa chọn hàng hóa bằng sự cảm nhận của mình. Chức năng này chỉ đƣợc thể hiện khi thƣơng hiệu đã đƣợc chấp nhận trên thị trƣờng, thông qua cảm nhận của ngƣời tiêu dùng về tính ƣu việt, sự tin tƣởng khi tiêu dùng.
Chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ là yếu tố quyết định lòng trung thành của khách hàng, nhƣng thƣơng hiệu đẳng cấp chính là động lực quan trọng để khách hàng tin cậy và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.