đặt vấn đề nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột tiêu chảy trên đàn bò nuôi tại một số trang trại thuộc thành phố Hà Nội và thử nghiệm phác đồ điều trị”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Xác định được quá trình biến đổi lâm sàng của bò khi mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy. - Xác định được sự biển đổi một số chỉ tiêu sinh lý - sinh hoá máu khi bò mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy. - Xác định rõ tổn thương bệnh lý ở đường ruột khi bò bị viêm ruột tiêu chảy - Xây dựng phác đồ điều trị.
Từ đó đưa ra phác đồ điều trị bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây nên. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột tiêu chảy trên đàn bò 1. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cung cấp những thông tin ý mới, có tính khoa học về đặc điểm bệnh lý của bệnh viêm ruột tiêu chảy ở đàn bò ngoài tự nhiên, từ đó đưa ra biện pháp điều trị có hiệu quả và góp phần thúc đẩy nghành chăn nuôi gia súc hiện nay. Làm cơ sở để các nhà khoa học, các cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế bệnh viêm ruột tiêu chảy trên đàn bò góp phần giảm thiệt hại cho người chăn nuôi.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ CON BÒ Bò là loài gia súc nhai lại thuộc họ sừng rồng (Bovidae), phân họ Bovinae, gồm hai nhánh: bò (Bovina) và trâu (Bubalina), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactyta), lớp có vú (Manmalian). Nhánh bò (Bovina) có 4 phân nhánh: 1. Bison Giống Bos chỉ có một loài, Bos primigeaius Bojanus là tổ tiên của bò nhà, chỉ còn một dòng với tên khoa học là Bos Taurus, trong đó có bò Zebu là xuất xứ của nhiều giống bò nhà hiện nay (Đặng Huy Huỳnh,1986).
Poephagus mutus Prezewalski là bò Tây Tạng hoang và con cháu thuần hoá của nó. Bò Banteng (hay Tsin) của Đông Nam châu Á là Bibos Javanicus hoặc Uibos banteng. Bò Banteng đã được thuần hoá thành bò Bali. Gaus (hay seladang) ở Bắc Ấn Độ và bán đảo Malaixia là Bibos Gaurus.
Bò Gaus được thuần hoá thành bò Gayal hoặc Mithan (Đào Văn Tiến, 1971). Giống bò Bison gồm hai loài là Bison bison châu Mỹ (Linnaeus) và Bison bonasus châu Âu (Linnaeus). Bò nhà được thuần hoá từ bò rừng khoảng 8.000 năm trước Công nguyên. Lúc đầu bò được thuần hoá và nuôi ở Ấn Độ, từ đó lan sang Nam Á, Địa Trung Hải và Trung Âu, về sau phát triển ở châu Âu, châu Á và châu Phi (Đặng Huy Huỳnh, 1986).
TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI BÒ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2. Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới Mức độ phát triển của ngành chăn bò phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và địa lí tự nhiên khác nhau ở mỗi nước. Sự phát triển rất cao của ngành chăn nuôi bò sữa tập trung ở phần lớn các nước: châu Âu, Bắc Mỹ, Tân Tây Lan và châu 3 c Úc. Các nước có nền kinh tế kém phát triển ở châu Á và châu Phi chủ yếu tập trung chăn nuôi bò thịt hoặc bò kiêm dụng thịt - cày kéo.
Cũng cần thấy rằng ở các nước châu Á có số lượng gia súc có sừng là rất lớn, nhưng sức sản xuất của chúng thấp, sản phẩm ít nên không đáp ứng được nhu cầu về thịt và sữa (Nguyễn Trọng Tiến và cs. Theo Cục Chăn nuôi (2017), trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành chăn nuôi trâu, bò có một số biểu hiện: ở các nước châu Âu, cùng với sự phát triển cao của ngành chăn nuôi lấy sữa (Đan Mạch, Hà Lan, Thụy Điển và một số nước khác), sự phát triển về số lượng và sức sản xuất sữa tương đối ổn định. Ở Mỹ xuất hiện sự biến đổi về tỉ lệ giữa đàn trâu, bò hướng sản xuất sữa và thịt. Ở đây đang có khuynh hướng mở rộng nghề nuôi bò lấy thịt và thu hẹp bò lấy sữa.
Điều này có liên quan đến nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Sự phát triển các giống bò thịt còn thấy ở các nước Trung và Nam Mỹ. Theo tài liệu của FAO (2010), sản xuất thịt trên toàn thế giới đạt 142,2 triệu tấn, trong đó thịt trâu, bò đạt 45,4 triệu tấn, chiếm 32%. Các nước châu Âu, Bắc và Trung Mỹ phát triển ngành chăn nuôi bò lấy thịt rất mạnh, đặc biệt ở Mỹ, sản lượng thịt bò chiếm 24,4 % tổng sản lượng toàn thế giới.
Sự phát triển của ngành chăn nuôi trâu, bò cũng đã tạo ra khoảng 300 giống bò (121 giống bò Zebu) và 38 giống trâu. Phương thức nuôi dưỡng đàn trâu, bò tuỳ thuộc vào điều kiện và tập quán của từng nước. Ở các nước châu Âu, chăn nuôi bò theo hướng thịt, sữa chiếm ưu thế. Hệ thống quản lý chủ yếu là bãi chăn - chuồng nuôi cùng với việc sử dụng rộng rãi đồng cỏ lâu năm, khẩu phần thức ăn trong giai đoạn mùa hè là thức ăn thô xanh và cỏ trên đồng cỏ, còn mùa đông dùng thức ăn nhiều nước, củ quả.
Ở đây, người ta đặc biệt chú ý đến thức ăn củ quả phơi tái. Thức ăn tinh trong khẩu phần bò sữa và bê là 20 đến 30 %, còn khi vỗ béo bò lấy thịt là 30 đến 40 %. Đối với bò sữa, trong giai đoạn nuôi tại chuồng, bò được bổ sung thức ăn 2 lần vào thời gian vắt sữa. Khi nuôi dưỡng bê hậu bị, người ta cho ăn sữa và thức ăn tinh hạn chế.
Nhiều nước như Anh, Pháp, Đan Mạch sử dụng rất phổ biến loại sữa thay thế và thức ăn tinh hỗn hợp (Cục Chăn nuôi, 2017). Tình hình chăn nuôi bò ở Việt Nam Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi năm 2017 gặp nhiều biến động, đặc biệt là giá thịt lợn giảm sâu từ đầu năm khiến người chăn nuôi chịu thua lỗ. 4 c Sau nhiều tháng chạm đáy, giá lợn hơi những tháng cuối năm đang có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn không đủ để người chăn nuôi có lãi. Tình trạng giá thấp kéo dài, khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến người chăn nuôi lợn giảm đàn, bỏ đàn, treo chuồng.
Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm và bò vẫn đang phát triển khá tốt và ổn định. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,4 triệu con, giảm 5,7%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%. Đàn gia cầm cả nước ước có 385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6%. Đàn trâu, bò cả nước trong năm nhìn chung không có biến động lớn.
Trong vài tháng cuối năm, một số tỉnh có xuất hiện các ổ dịch lở mồm long móng trong phạm vi nhỏ lẻ nhưng hiện đã được dập tắt. Đàn bò phát triển khá tốt do có nhiều chương trình hỗ trợ của Nhà nước, dự án đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp được triển khai, thị trường tiêu thụ thuận lợi, ít dịch bệnh, hiệu quả kinh tế cao. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 87,9 nghìn tấn, tăng 1,5%; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,9%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 321,7 nghìn tấn, tăng 4,2%, sản lượng sữa bò đạt 881,3 triệu lít, tăng 10,8%. Một số tỉnh phát triển tốt đàn bò sữa, chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng sữa cả nước là Hồ Chí Minh đạt 285,5 triệu lít, tăng 2,4%; Nghệ An đạt 225,9 triệu lít, tăng 9,5%; Sơn La đạt 81,8 triệu lít, tăng 11,4%; Lâm Đồng đạt 75,5 triệu lít, tăng 8,0%; Hà Nội đạt 40,2 triệu lít, tăng 2,01%.
Số liệu đàn bò Việt Nam từ 2014 – 2017 Năm 2014 2015 2016 2017 Toàn Quốc (Triệu/con) 5,156 5,234 5,367 5,616 Nguồn: Tổng cục TK (2015, 2016, 2017, 2018) Từ năm 2014 đến 2017, đàn bò đã tăng từ 5,156 triệu con lên 5,616 triệu con. Hiện nay đã có nhiều tỉnh thành tham gia dự án phát triển giống bò thịt chất lượng cao. Hàng nghìn bò thịt giống cao sản đã được nhập về nước trong hai năm vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển chăn nuôi bò của nhân dân. Tỉ lệ đàn bò lai chiếm trên 30% tổng đàn bò, là đàn bò nền để tiếp tục lai tạo bò thịt chất lượng cao.
Một số tỉnh đã có các trang trại bò tư nhân qui mô lớn hàng trăm con như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Bình Dương và Lâm 5 c Đồng,…(Cục Chăn nuôi, 2017). Theo đánh giá của Cục Chăn nuôi, phương thức chăn nuôi bò thịt hiện nay chủ yếu là chăn nuôi quảng canh, ít đầu tư vào thức ăn, đồng cỏ, chuồng trại. Chỉ một số ít các trang trại quy mô lớn có đầu tư vào chuồng trại, đồng cỏ nhưng cũng ở mức độ thấp do nguồn vốn hạn chế hoặc thiếu tư vấn kĩ thuật, công nghệ phù hợp. Kết quả điều tra kĩ thuật tình hình chăn nuôi bò tại các địa phương cho thấy việc áp dụng các tiến bộ kĩ thuật rất hạn chế, ví dụ như chưa sử dụng thức ăn tinh nuôi bò hay ủ rơm với u rê chỉ được một số ít các hộ áp dụng (chưa đến 5%).
Thực sự, tại Việt Nam chưa có ngành chăn nuôi bò thịt theo hướng hàng hoá và chuyên nghiệp, thịt bò cung cấp trên thị trường chủ yếu là thịt từ trâu bò bị loại thải (khi già yếu, bệnh,…) và bê đực nuôi vỗ béo. Quy mô chăn nuôi phổ biến hiện nay là chăn nuôi nông hộ, quy mô nhỏ. Khảo sát bước đầu tại Ninh Thuận, một tỉnh có đàn bò tương đối đông thuộc khu vực Duyên hải miền Trung cho thấy hộ chăn nuôi bò quy mô dưới 10 con chiếm hơn 75%. Tại Trà Vinh, tỉnh có đàn bò đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỉ lệ hộ chăn nuôi có quy mô nhỏ (dưới 5 con) chiếm hơn 82%.
Tại khu vực các tỉnh Đông Nam Bộ, bước đầu nhiều trang trại chăn nuôi bò có quy mô lớn với 200 -1000 con/trang trại đã được hình thành, chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá đang được hình thành và phát triển. Nhiều trang trại chăn nuôi bò đã đầu tư hệ thống chuồng trại quy mô, đúng quy cách kĩ thuật, đồng cỏ cao sản, hệ thống phối giống và quản lí giống được chú ý đúng mức (Cục Chăn nuôi, 2017). Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi trâu bò sữa cũng dần được hình thành.