đặt vấn đề nghiên cứu đề tài :"Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma tại một số vùng phụ cận Hà Nội và biện pháp phòng trị". Tính cấp thiết của đề tài Bệnh suyễn lợn đã và đang tồn tại trên khắp các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là những nơi chăn nuôi tập chung, nơi có điều kiện khí hậu ẩm thấp, nơi gần các khu công nghiệp, các làng nghề….Các nơi đó đã tạo điều kiện cho bệnh phát sinh, mặt khác khi chuồng nuôi tập trung không được bố trí hợp lý về mặt độ đàn cũng làm bệnh bùng phát. Lợn bị mắc bệnh, tuy tỷ lệ chết không cao nhưng thiệt hại thì vô cùng lớn, lợn tiêu tốn thức ăn nhiều, chậm lớn, chi phí điều trị cao do đó thời gian xuất chuồng sẽ kéo dài làm thiệt hại kinh tế. Vùng phụ cận Hà Nội là nơi cung cấp một lượng thịt lợn rất lớn cho thủ đô, là nơi có nhiều nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp, do đó ít nhiều làm phát sinh dịch bệnh cho lợn nuôi tại khu vực này, nhất là những bệnh đường hô hấp đặc biệt là bệnh suyễn lợn.
Do vậy nghiên cứu bệnh viêm phổi ở lợn do Mycoplasma mang tính cấp thiết cho ngành chăn nuôi lợn tại vùng này. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đây là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về: Nguyên nhân gây bệnh suyễn, diễn biến bệnh lý, các triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh, một số biến đổi về sinh lý, sinh hoá máu, một số biến đổi bệnh lý của phổi lợn bệnh và đặc biệt là kế hoạch phòng trị bệnh cho lợn bằng biện pháp tiên tiến đạt kết quả tốt. Đưa ra những luận chứng sát thực về một số những biến đổi của cơ thể lợn khi mắc bệnh, tạo nghiên cứu cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Biết được sự biến đổi lâm sàng của lợn bị bệnh: Triệu chứng bên ngoài, nhiệt độ, tần số hô hấp, tần số mạch.
- Biết được sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý của máu lợn bệnh. - Biết được sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh hoá của máu lợn bệnh. - Theo dõi mức độ tổn thương của phổi lợn: Cả vi thể và đại thể. - Xây dựng phác đồ phòng và trị bệnh có hiệu quả.
- Ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được vào thực tiễn sản xuất nhằm hạn chế tác hại của bệnh, tạo sản phẩm an toàn về bệnh, nâng cao hiệu quả trong nuôi lợn, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo đối với bệnh này. PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Lịch sử nghiên cứu về nguyên nhân bệnh 2. Những nghiên cứu ngoài nước Bệnh lần đầu tiên được phát hiện thấy ở nước Đức, sau đó thấy ở Anh, Thụy Điển và gọi tên bệnh là Dịch viêm phổi địa phương.
Trước khi tìm ra nguyên nhân gây bệnh suyễn lợn, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả về nguyên nhân gây bệnh. Ngày đầu bệnh xuất hiện, một số tác giả cho rằng: Bệnh suyễn lợn là do một loài virus nào đó không qua màng lọc gây ra, và tất cả các hướng nghiên cứu khi đó tập trung vào nguyên nhân do virus. Những năm 50 của thế kỷ XX các nhà khoa học ở các nước Anh, Canada, Mỹ, Thụy Điển đã đi xâu vào nghiên cứu đồng loạt nhưng theo hướng là do virus gây nên bệnh, kết quả thu được không đồng nhất, trong quá trình nghiên cứu họ đã tìm thấy Mycoplasma trong bệnh phẩm nhưng lại cho rằng: Vi khuẩn này chỉ là vi khuẩn thứ phát, thường nhiễm vào các bệnh tích của phổi khi lợn mắc bệnh và che lấp căn bệnh trong môi trường tế bào và không có tế bào dùng để phân lập mầm bệnh. Cho tới lúc này người ta vẫn cho rằng có một loại virus nào đấy gây nên bệnh mà chưa tìm ra được.
Cũng trong những năm 50 một số tác giả đã nghiên cứu được một số đặc trưng của mầm bệnh là : - Mầm bệnh cũng mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh. - Mầm bệnh có khả năng gây bệnh cho tế bào. - Quang phổ gây bệnh rất rộng. - Tính kháng nguyên của nó không phù hợp với bản chất của virus.
Tới năm 1963 Bet và Gutvin, Oaileston đã nghiên cứu ở Anh và cho kết quả đầu tiên của căn bệnh. Họ đã định bệnh phẩm phổi lợn bị viêm không chứa căn bệnh thứ phát đem tiến hành nuôi cấy và cho kết quả là một vi sinh vật đa hình thái, trong môi trường tế bào phổi lợn, thí nghiệm thấy lợn không mắc bệnh viêm phổi địa phương Đối với môi trường không có tế bào gồm: 10% dung dich đệm muối Hanks, 20% huyết thanh lợn vô hoạt (lấy từ lợn không mắc bệnh Dịch viêm phổi địa phương) và 0,5% latbunin thuỷ phân, 0,01% chiết xuất Mendifco, 200 đơn vị Penicillin trong 1ml môi trường. Kết quả là vẫn có thể nuôi cấy được. Từ đó Gutvin va Oaileston năm 1964 cho rằng: Vi khuẩn mà họ phân lập được có hướng thuộc nhóm Mycoplasma là nguyên nhân gây nên việc viêm phổi địa phương, nhưng họ chưa chứng minh được vi khuẩn Mycoplasma này có hình thành được trong môi trường đặc hay không nên họ chưa có kết quả chính xác.
Năm 1965, Maree và Xuitxơ đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh tương tự ở Mĩ trong môi trường không có tế bào như nghiên cứu của Gutvin và Oaileston năm 1964, Marê và Xuitxơ đã quan sát được sự hình thành khuẩn lạc Mycoplasma trên môi trường đặc mà họ nuôi cấy.Trong môi trường dịch thể không có tế bào đã được kiểm tra là tinh khiết họ thấy trên môi trường hình thành những khuẩn lọc hình cầu giống như Mycoplasma. Khi tiêm canh khuẩn trong môi trường dịch thể ở lần cấy lần thứ 7 cho lợn họ đã tìm thấy bệnh tích điển hình ở phổi, giống như bệnh tích theo quan điểm virus. Cũng năm 1965, Gutvin cũng quan sát được sự hình thành khuẩn lọc Mycoplasma trong môi trường đặc cấy Mycoplasma mà họ đã phân lập được. Mặt khác họ còn thấy khuẩn lọc Mycoplasma tiêm cho lợn thấy lợn mắc bệnh và họ kết luận rằng: “Vi khuẩn đã hình thành khuẩn lọc là nguyên nhân gây ra bệnh Dịch viêm phổi địa phương và đặt tên la M.Suipneumonia ” Năm 1986, Papageogia đã tiến hành nghiên cứu một mặt vi sinh vật học của mầm bệnh, tác giả đã chứng minh được vai trò chủ yếu của Mycoplasma.
Canh khuẩn trong môi trường dịch thể đem tiêm cho lợn con từ 10 -21 ngày tuổi đã gây ra bệnh được và đem quan sát cụ thể thấy được bệnh tích viêm khí quản phổi hoặc viêm phổi thuỳ ở các thuỳ tim, thuỳ đỉnh, viêm ngoại tâm mạc cấp tính, với sự hình thành u hạt ở màng cơ tim và bệnh tích viêm ngoại tâm mạc. Về sau đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo nhằm sáng tỏ thêm vấn đề Như vậy sau rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới, cuối cùng đã xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh Dịch viêm phổi địa phương (ngày nay gọi là suyễn) của lợn là Mycoplasma hyopneumoniae. Một số nghiên cứu trong nước Bệnh đường hô hấp mãn tính của lợn ở Việt Nam được quen gọi với tên bệnh suyễn lợn đã xảy ra từ năm 1958 tại các cơ sở giống lợn của Nhà nước. Theo tác giả Trường Giang (1965).
Dịch viêm phổi địa phương đã xảy ra tại nông trường An Khánh năn 1958 và giết hại hàng trăm lợn mỗi năm, tập trung nhất vào đàn lợn 2-7 tháng tuổi. Ngoài các trại Nhà nước, tại các trại tập thể của hợp tác xã cũng đã xảy dịch Dịch viêm phổi địa phương. Hoàng Hải (1963) đã theo dõi một ổ dịch tại Thuận Châu (Sơn La) cho thấy: giống được chuyển từ Thái Bình lên vào năm 1961, sau 8-9 tháng nuôi trọng lượng cơ thể chỉ tăng 5-6 kg. Một số lợn có trọng lượng khoảng 17-18 kg, khi được mổ khám thấy có triệu chứng điển hình của Dịch viêm phổi địa phương.
Tác giả cũng đã mô tả lại các triệu chứng điển hình của bệnh Dịch viêm phổi địa phương như : gầy sút, ho từng cơn vào sáng sớm nhất là những ngày giá lạnh, lợn ho nhiều rũ rượi, đứng riêng trong góc chuồng thở hổn hển.bệnh tích chủ yếu khi mổ khám thấy là hiện tượng nhục hóa và có mủ, có nhiều trường hợp viêm dính vào sườn. Khác với các nước phát triển, ở Việt Nam, do điều kiện chăm sóc và vệ sinh kém, vai trò của các vi khuẩn cộng phát lại rất lợn. Vì vậy khi lợn bị bệnh và chết chủ yếu là do sự kết hợp của M. hyopneumoniaee và các loại vi khuẩn khác, đặc biệt là P.multocida, Streptococus Sp.
Nguyễn Tiến Dũng (1989) đã mô tả triệu chứng của bệnh suyễn lợn là : khó thở, thở bụng, nhịp thở nhanh, ho khan nhất là vào buổi sáng, triệu chứng trên trầm trọng và rõ ràng hơn khi lợn được vận động nhiều, thậm chí có thể chết. Bệnh tích của hội chứng ho thở truyền nhiễm nhiều khi không biểu hiện ra ngoài, lúc này tăng trọng kém và tiêu tốn thức ăn cao là biểu hiện duy nhất của trạng thái nhiễm M. Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên năm 1953 ở một vài trại giống, đến năm 1962, bệnh đã lan khắp các tỉnh, cho đến nay bệnh phát triển rất rộng. Tỷ lệ ốm cao, có trại lợn chiếm 80% lợn mắc (trại máy trai Hải Phòng).
Có trại do nhập lợn đã bị suyễn nên cả đàn bị lây đã phải diệt hết (trại cầu Nguyễn Thái Bình). Nhiều trại chăn nuôi quốc doanh cũng bi nhiễm nặng: Trại Thành Tô - Hải Phòng, Trại An Khánh - Hà Đông. Tới này cố rất nhiều công trình nghiên cứu về căn bệnh này, nhưng chỉ mới nghiên cứu về nguyên nhân, triệu chứng bệnh và biện pháp phòng trị + nhiều phác đồ phòng và trị bệnh đã được áp dụng nhưng tới nay bệnh vẫn phát triển trên diện rộng. Hiện Viện thú y quốc gia đang nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu chế tạo vaccin phòng bệnh suyễn lợn do Mycoplasma gây ra và xây dựng một số mô hình trại giống an toàn”.
Câu hỏi đặt ra cho các nhà khoa học là: Làm sao loại trừ được dịch bệnh này trên lợn, làm sao để tăng hiệu quả trong công tác chăn nuôi. Mycoplasma Mycoplasma đựoc phát hiện đầu tiên bởi Nocard và Roux vào năm 1898 ở bò bị viêm phổi và được đặt tên là M. Sau 25 năm người ta phát hiện ra nhiều vi khuẩn giống Mycoplasma nên đặt tên là PPLO ( Pleuropneumonia – Like Orgsnisms ).