Luận văn ThS: Ảnh hưởng bột chè đại đến năng suất, chất lượng thịt gà Mía lai tại Thái Nguyên

Nghiên cứu ảnh hưởng của bột chè đại đến năng suất và chất lượng thịt gà Mía lai. Khám phá tác động đối với ngành chăn nuôi gà, dinh dưỡng gia cầm.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bột chè đại và gà Mía lai Lương Phương

Bột lá chè đại (Trichanthera gigantea) là nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi giàu protein, chất xơ và sắc tố tự nhiên. Cây chè đại thuộc họ Acanthaceae, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, được trồng phổ biến tại vùng nhiệt đới nhờ khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất lá cao. Hàm lượng protein thô trong lá chè đại dao động từ 16-22%, kèm theo các vitamin và khoáng chất thiết yếu. Gà Mía lai Lương Phương là giống gà thịt lai được nghiên cứu và phát triển tại Thái Nguyên. Giống gà này kế thừa ưu điểm lớn nhanh, tỷ lệ thịt xẻ cao từ gà Mía thuần chủng. Nghiên cứu của Đặng Trường Giang (2020) tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã đánh giá tác động của việc bổ sung bột lá chè đại với các tỷ lệ 2%, 4% và 6% vào khẩu phần ăn đến năng suất và chất lượng thịt gà Mía lai. Kết quả mở ra hướng sử dụng nguồn thức ăn thay thế hiệu quả, giảm chi phí sản xuất trong chăn nuôi gà thịt.

1.1. Đặc điểm thực vật học và giá trị dinh dưỡng cây chè đại

Cây chè đại (Trichanthera gigantea) là loại cây bụi lớn, chiều cao có thể đạt 3-5 mét. Lá cây hình trứng, kích thước lớn, mặt trên xanh đậm, mặt dưới nhạt màu hơn. Cây ưa khí hậu nhiệt đới ẩm, sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa từ 1.500-3.000 mm/năm. Thành phần hóa học của lá chè đại rất đa dạng: protein thô chiếm 16-22%, chất xơ thô 18-25%, tro 10-15%. Đặc biệt, lá chứa hàm lượng sắc tố carotenoid tự nhiên cao, có khả năng tạo màu vàng cam cho da và lòng đỏ trứng gà. Ngoài ra, lá chè đại còn cung cấp các axit amin thiết yếu như lysine, methionine, threonine giúp cải thiện chất lượng protein khẩu phần.

1.2. Giới thiệu giống gà Mía lai Lương Phương

Gà Mía lai Lương Phương là sản phẩm lai tạo giữa gà Mía thuần chủng và gà ngoại nhập, được nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương. Giống gà này có tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt khối lượng 1,8-2,0 kg sau 12 tuần nuôi. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 68-72%, thịt có vị ngọt tự nhiên, da vàng bắt mắt. Gà Mía lai thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình đạt 2,8-3,2 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Nhờ phẩm chất thịt thơm ngon đặc trưng, gà Mía lai được thị trường ưa chuộng, giá bán cao hơn gà công nghiệp 20-30%.

II. Phân tích ảnh hưởng của bột chè đại đến năng suất gà Mía lai

Nghiên cứu thực nghiệm trên gà Mía lai Lương Phương từ 4-12 tuần tuổi cho thấy rõ sự khác biệt về năng suất giữa các nhóm bổ sung bột lá chè đại. Nhóm bổ sung 4% bột lá chè đại (TN2) đạt kết quả tốt nhất với hệ số chuyển hóa thức ăn trung bình 3,04 kg/kg tăng khối lượng, thấp hơn 3,18% so với nhóm đối chứng. Nhóm bổ sung 2% (TN1) cũng cải thiện đáng kể, đạt 3,09 kg/kg tăng khối lượng, thấp hơn 1,59% so với đối chứng. Tuy nhiên, nhóm bổ sung 6% (TN3) lại cho kết quả kém hơn với hệ số 3,15 kg/kg. Về tốc độ tăng trưởng, giai đoạn 7-10 tuần tuổi là thời điểm gà phát triển mạnh nhất. Các nhóm TN1 và TN2 đều có tốc độ tăng trọng cao hơn nhóm đối chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở tuần 7 và tuần 11-12. Chất lượng thức ăn viên, mùi vị và hàm lượng chất xơ từ bột chè đại ảnh hưởng trực tiếp đến lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của gà.

2.1. Ảnh hưởng đến hệ số chuyển hóa thức ăn theo từng giai đoạn

Hệ số chuyển hóa thức ăn biến động rõ rệt theo từng tuần tuổi. Giai đoạn 4-5 tuần, các nhóm có hệ số chuyển hóa tương đương nhau (1,74-1,77 kg/kg). Từ tuần 6 trở đi, sự khác biệt bắt đầu显现. Tại tuần 7, nhóm TN2 đạt 2,27 kg/kg, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng 2,32 kg/kg (P<0,05). Giai đoạn 10-12 tuần tuổi, nhóm TN2 duy trì ưu thế với hệ số 2,79-3,04 kg/kg. Ngược lại, nhóm TN3 bổ sung 6% bột chè đại lại có hệ số chuyển hóa cao nhất, cho thấy tỷ lệ bổ sung quá cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng.

2.2. Ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận và tăng trọng

Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày tăng dần theo tuần tuổi, từ khoảng 50-60g/con/ngày ở tuần 4 lên 120-140g/con/ngày ở tuần 12. Các nhóm bổ sung bột chè đại có xu hướng thu nhận thức ăn tốt hơn so với đối chứng. Tuy nhiên, chất lượng viên thức ăn đóng vai trò quan trọng. Khi tỷ lệ bột chè đại vượt quá 4%, viên thức ăn trở nên dễ vỡ, ảnh hưởng đến lượng thức ăn thực tế gà ăn được. Tốc độ tăng trọng trung bình toàn giai đoạn ở nhóm TN2 đạt 28-30g/con/ngày, cao hơn 5-8% so với đối chứng. Mùi hương tự nhiên từ bột chè đại cũng góp phần kích thích gà ăn ngon miệng hơn.

III. Phương pháp bổ sung bột chè đại vào khẩu phần gà thịt

Việc chế biến bột lá chè đại đòi hỏi quy trình đúng để đảm bảo chất lượng và giảm thiểu chất kháng dinh dưỡng. Lá chè đại thu hoạch sau 60-90 ngày trồng, ưu tiên chọn lá bánh tẻ có màu xanh đậm. Lá được rửa sạch, phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 60-70°C cho đến khi độ ẩm còn 10-12%. Sau đó, lá khô được nghiền mịn qua sàng 1mm để tạo bột đồng nhất. Bột lá chè đại cần được bảo quản trong bao kín, nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp để hạn chế mất mát sắc tố carotenoid. Tỷ lệ bổ sung tối ưu được khuyến nghị là 4% trong tổng khẩu phần thức ăn. Bột chè đại được trộn đều với các nguyên liệu khác trong quá trình phối trộn thức ăn hoàn chỉnh. Cần đảm bảo thức ăn viên đạt độ cứng phù hợp, tỷ lệ bụi vụn dưới 5%. Kiểm tra định kỳ chất lượng bột nguyên liệu về độ ẩm, protein thô và sắc tố để điều chỉnh tỷ lệ bổ sung phù hợp.

3.1. Quy trình thu hái và chế biến bột lá chè đại

Thu hoạch lá chè đại đúng thời điểm rất quan trọng. Lá bánh tẻ (45-60 ngày tuổi) có giá trị dinh dưỡng cao nhất, protein thô đạt 18-22%. Tránh thu hoạch lá quá non hoặc quá già vì hàm lượng chất xơ cao, protein thấp. Sau thu hoạch, lá được rửa sạch bụi bẩn, cắt nhỏ 2-3 cm để tăng diện tích tiếp xúc khi sấy. Nhiệt độ sấy khuyến nghị 60-70°C, không vượt quá 80°C để bảo toàn sắc tố carotenoid và vitamin. Thời gian sấy từ 8-12 giờ đến khi lá giòn, dễ bẻ gãy. Công đoạn nghiền sử dụng máy nghiền búa tốc độ cao, sàng 1mm cho sản phẩm bột mịn, đồng đều. Năng suất chế biến trung bình 4-5 kg bột từ 10 kg lá tươi.

3.2. Cách phối trộn và bảo quản thức ăn có bổ sung bột chè đại

Bột lá chè đại được bổ sung trực tiếp vào hỗn hợp nguyên liệu trước khi ép viên. Tỷ lệ 4% bột chè đại tương ứng 40 kg bột trong mỗi tấn thức ăn hoàn chỉnh. Quá trình phối trộn cần đảm bảo đồng đều, thời gian trộn tối thiểu 5 phút trong máy trộn trục ngang. Khi ép viên, điều chỉnh nhiệt độ ép không quá 75°C để tránh phá hủy carotenoid. Thức ăn viên thành phẩm cần đạt độ bền viên trên 90%, độ ẩm dưới 12%. Bảo quản thức ăn trong kho thoáng mát, sử dụng trong vòng 30 ngày. Bột chè đại nguyên liệu nên dùng trong 60 ngày, đóng bao 25-50 kg, xếp trên pallet cách sàn 15-20 cm.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tế của bột chè đại trong chăn nuôi

Nghiên cứu chứng minh rằng bổ sung 4% bột lá chè đại vào khẩu phần gà Mía lai Lương Phương mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Nhóm TN2 (4%) có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất (3,04 kg/kg), tiết kiệm 3,18% thức ăn so với đối chứng. Chất lượng thịt gà cũng được cải thiện đáng kể với màu da vàng tự nhiên, tỷ lệ thịt xẻ cao. Hàm lượng sắc tố carotenoid trong bột chè đại giúp tạo màu vàng cam hấp dẫn mà không cần sử dụng phẩm màu tổng hợp.Ứng dụng bột chè đại trong chăn nuôi gà thịt giúp giảm chi phí thức ăn 5-8% so với sử dụng hoàn toàn nguyên liệu truyền thống. Cây chè đại dễ trồng, cho thu hoạch quanh năm, năng suất lá tươi đạt 30-50 tấn/ha/năm. Bà con nông dân có thể trồng xen canh hoặc trồng chuyên canh để chủ động nguồn nguyên liệu. Đây là giải pháp bền vững, thân thiện môi trường, phù hợp với xu hướng chăn nuôi an toàn sinh học tại Việt Nam.

4.1. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng bột chè đại

Chi phí nguyên liệu bột lá chè đại ước tính 5.000-7.000 đ/kg, thấp hơn đáng kể so với bột cá nhập khẩu (25.000-35.000 đ/kg). Khi bổ sung 4% bột chè đại, mỗi tấn thức ăn tiết kiệm được 150.000-200.000 đ. Trên quy mô 1.000 gà thịt, chi phí thức ăn giảm khoảng 500.000-700.000 đ/mẻ nuôi. Ngoài ra, gà nuôi bằng thức ăn có bổ sung bột chè đại có màu da vàng đẹp, bán được giá cao hơn 3.000-5.000 đ/kg so với gà da trắng. Tổng lợi nhuận tăng thêm 15-20% so với phương pháp nuôi truyền thống. Thời gian hoàn vốn đầu tư ban đầu chỉ sau 2-3 lứa nuôi.

4.2. Hướng dẫn áp dụng cho nông hộ chăn nuôi

Nông hộ bắt đầu áp dụng bằng cách trồng 100-200 cây chè đại quanh vườn hoặc vùng đất trống. Cây giống dễ tìm, trồng bằng hom cành, sau 4-6 tháng bắt đầu thu hoạch lá. Mỗi cây cho thu hoạch 3-5 kg lá tươi/lần, thu hoạch 6-8 lần/năm. Phơi sấy lá tại nhà bằng giàn phơi hoặc lò sấy than, củi đơn giản. Nghiền bột bằng máy xay sinh tố công nghiệp nhỏ hoặc máy nghiền búa mini. Bổ sung 4 kg bột chè đại vào mỗi 100 kg thức ăn trộn sẵn. Bắt đầu từ tỷ lệ 2% để gà quen dần, sau đó tăng lên 4%. Theo dõi sát tình trạng sức khỏe, phân gà để điều chỉnh kịp thời.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn bổ sung bột lá chè đại trichanthera gigantea đến năng suất chất lượng thịt của gà mía lai lương phượng tại thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Phân loại thực vật, nguồn gốc và đặc điểm thực vật học của cây chè đại (Trichanthera gigantea) 1. Nguồn gốc Cây chè đại (Trichanthera gigantea) thuộc họ Acanthaceae, họ phụ Acanthoideae, bộ Trichanthereae, loài Trichanthera gigantea, tên khoa học là Trichanthera gigantea có nguồn gốc ở chân đồi Andean của Colombia, nhưng cũng được tìm thấy ở dọc bờ sông và khu vực đầm lầy từ Costa Rica đến miền Bắc nước Mỹ và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực Amazon, vùng đồng cỏ trên các đảo ở vùng cửa sông Amazon.

Mutis là người đầu tiên mô tả về cây (Trichanthera gigantea). Vào năm 1801, Humboldt và Bonpland cho rằng cây này là một loài trong giống Ruellia và được phân lớp Ruellia gigantea (tất cả các loài thuộc giống Ruellia đều là cây thân thảo) trích theo Văn Thị Ái Nguyên (2017). Chè đại (Trichanthera gigantea) được mô tả lần đầu với tên gọi Ruellia gigantean 1. Đặc điểm thực vật học của cây (Trichanthera gigantea) Theo mô tả của Leonard (1951) cây (Trichanthera gigantea) là cây thân bụi hoặc có cây cao đến 5 m.

Cây có tán tròn, nhánh bậc 2, lá hình cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 14 cm thuôn nhọn về chót lá, bản hẹp, cuống lá dài 1-5 4 cm, hoa nở theo chu kỳ. Mỗi quả của cây (Trichanthera gigantea) có 35-40 hạt, có 1.123 quả/kg và 4. Tuy nhiên do hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm, tỷ lệ trồng bằng hạt chỉ đạt 0-2% (CIPAV, 1996) nên người ta thường chọn cách nhân giống bằng hom. Theo McDade (1983) nguyên nhân là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn.

Rễ là một trong những bộ phận giúp cây (Trichanthera gigantea) có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gomez và Murgueitio, 1991) (Từ Quang Hiển và cs (2002). Bên cạnh rễ, người ta còn dùng hom để nhân giống cây Trichanthera gigantea. Khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95% (Acero, 1985). Nhưng khi sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2-3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20-30 cm) để nhân giống thì tỉ lệ mọc mầm có thể sẽ thấp hơn 50% (Jaramillo và River, 1991).

Thích nghi sinh thái Cây Trichanthera gigantea có khoảng thích nghi sinh thái rộng thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.800 mm (Acero, 1985; Jaramillo và Corredor, 1989), nhưng nơi có lượng mưa hàng năm khoảng từ 5. Cây phát triển tốt trên đất khô kém màu mỡ và có tính acid (pH là 4,5) nhưng cần phải thoát nước tốt (Acero, 1985). Ở Việt Nam cây Trichanthera gigantea cho thấy khả năng phát triển tốt ở nơi có khí hậu nóng ẩm của miền Bắc hay ở Miền Trung với lượng mưa hàng năm 3.415 mm, nhiệt độ 21-290C, ẩm độ 79-91% (Nguyen Xuan Ba and Le Duc Ngoan, 2003) và thích hợp cả với Miền Nam với lượng mưa hàng năm 1.700 mm, nhiệt độ trung bình 26-280C và ẩm độ 78- 88%. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cây chè đại (Trichanthera gigantea) Theo Preston (1992) cây Trichanthera gigantea là một trong số những cây đa mục tiêu (multi-purpose tree) được trồng vì nhiều mục tiêu hữu dụng cho con người như: cung cấp nguồn protein cho động vật, chống xói mòn, kho chứa nguồn carbon dioxide (mà đại diện là sinh khối) và methane (sinh ra do tiến trình phân hủy lá rụng trong đất).

Trong khuôn khổ nghiên cứu chúng tôi chủ yếu đề cập và kỳ vọng ở mục tiêu cung cấp nguồn đạm cho vật nuôi. gigantea có hàm lượng đạm 15-22% phần lớn là đạm thô hữu dụng (Rosales, 1997) và hàm lượng canxi đặc biệt cao hơn so với các loại cây thức ăn khác (Rosales và Galino, 1987). Điều này được cho là do có sự hiện diện của cystoliths trong lá, đặc trưng của họ Acanthaceae. Chất cystoliths là các khối khoáng nhỏ (small mineral concretions) xuất hiện bên trong những đường nhỏ nằm ở bề mặt trên của lá, phần bên trên của cọng, trên nhánh của phát hoa và trên đài hoa (trích dẫn của Nguyễn Thị Hồng Nhân và Huỳnh Thị Ngọc Trinh, 2012).

Nguyen Xuan Ba và Le Duc Ngoan (2003) cho biết: tùy thuộc vị trí địa lý, đất đai và khí hậu mà thành phần hóa học cây Trichanthera gigantea có sự biến động. Tại miền Bắc Việt Nam lá cây chè đại có hàm lượng DM: 12,8 - 16,5%; CP: 11,8 - 15,4%, miền Trung hàm lượng DM: 14%; CP: 12,4% và miền Nam có hàm lượng DM và CP cao nhất 16,41% và 21,66%. Từ đó cho thấy điều kiện khí hậu đã có tác động tích cực đến hàm lượng DM và CP tích lũy lại trong lá cây T. Năng suất chất xanh và giá trị sử dụng của cây chè đại Cây Trichanthera gigantea rất phù hợp với đất và khí hậu, thời tiết vùng Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy Trichanthera gigantea trồng tại Đắc Lắc sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng chống chịu hạn trong điều kiện mùa khô không tưới 6 nước, năng suất sinh khối tương đối cao, từ 8 tấn - 13,5 tấn/ha/lứa cắt. Có thể trồng xen Trichanthera gigantea trong vườn cây ăn quả và vườn điều, tiêu, cao su,. cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời đây là loại cây thức ăn có thể chế biến phơi khô, ủ xanh làm thức ăn dự trữ cho gia súc. Theo phân tích tại Phòng Nông hóa thổ nhưỡng thì lá cây Trichanthera gigantea có tỷ lệ VCK: 21,29%, trong vật chất khô, tỷ lệ protein thô rất cao lên tới 21,66%, lipit thô: 6,92%, xơ thô: 25,42%.

Lá tươi và bột lá Trichanthera gigantea bổ sung vào khẩu phần của gia cầm, gia súc (bò sữa) đã góp phần giảm chi phí thức ăn nhưng không giảm năng suất, chất lượng sản phẩm thịt, trứng, sữa. gigantea có thể thay thế từ 15 - 30% thức ăn hỗn hợp (khoảng 3-6 kg lá tươi/con/ngày) trong khẩu phần bò vắt sữa giúp tăng lợi nhuận từ 5-10% do giảm chi phí thức ăn hỗn hợp trong khi năng suất, chất lượng sữa và khối lượng cơ thể của bò không bị giảm. Năng suất chất xanh của Trichanthera gigantea trồng bằng hom thân với mật độ hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 60 cm, đạt từ 50 - 60 tấn/ha. Người ta thường thu hoạch 3 lần/năm, đợt đầu tiên thu hoạch sau trồng 6 tháng và năng suất đạt từ 18-20 tấn/ha, tái sinh đợt 1 thu hoạch sau đợt cắt đầu tiên là 3 tháng và năng suất đạt từ 17-18 tấn/ha, tái sinh đợt 2 thu hoạch sau đợt cắt 1 là 3 tháng và năng suất chỉ đạt từ 15-16 tấn/ha (Văn Thị Ái Nguyên, 2017) Trichanthera gigantea là loại cây trồng mới sử dụng làm thức ăn cho gia súc, được nhập vào Việt Nam năm 1990 từ nước Colombia, đây là loại cây thân bụi, lá to, năng suất khá cao, rất giàu protein, khoáng và vitamin.

Hiện nay, cây Trichanthera gigantea được trồng nhiều ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thỏ và cá. Kết quả cho thấy sử dụng loại cây này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi. 7 Cây Trichanthera gigantea có hàm lượng nước trong lá cao, từ 80-85% khi lá ở độ tuổi 30-45 ngày, vì vậy lá mềm mại nhưng lại khó phơi khô; tỷ lệ protein thô trong VCK của lá dao động từ 18-26% tùy thuộc vào tuổi của lá; trong protein hầu hết là protit, nitơ phi protit rất ít; tỷ lệ lipit thấp, khoảng 2-3% VCK; tỷ lệ xơ thô thấp, khoảng 10-18% VCK tùy theo tuổi của lá; tỷ lệ khoáng rất cao (20-25% VCK), hàm lượng canxi cao hơn rất nhiều so với các loại cây thức ăn khác, do đó có thể sử dụng bột lá T. gigantea như một nguồn cung cấp can xi cho vật nuôi.

Tỷ lệ protein và khoáng trong VCK của lá cao đã làm cho tỷ lệ dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN) thấp hơn so với một số loại lá khác, nó dao động từ 30-40% VCK. Tỷ lệ lipit và DXKN trong VCK đều thấp dẫn đến năng lượng của bột lá thấp. Đây là điều cần lưu ý khi phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn của vật nuôi; bổ sung thêm dầu, mỡ để bù đắp năng lượng thiếu hụt là yêu cầu bắt buộc khi bổ sung bột lá vào khẩu phần ăn của gia cầm. Bằng phương pháp tiêu hóa dạ cỏ để xác định tỷ lệ tiêu hoá đối với lá cây Trichanthera gigantea thấy rằng tỷ lệ phân giải chất khô là 77%.

Cây Trichanthera gigantea có thể thu hoạch lứa đầu vào lúc 4-6 tháng sau khi trồng, năng suất đạt 15,64 đến 16,74 tấn/ha (thân lá tươi) với mật độ trồng 40. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên 50 tấn/ha/năm; khi trồng với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75m x 0,75m) và khoảng cách cắt (KCC) 1,5 - 3 tháng một lần, năng suất bình quân đạt 17 tấn/ha/lứa ở năm thứ 2 trở đi. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm. gigantea có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón.

Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động của mycorrhiza hay những vi sinh vật khác. Chất kháng dinh dưỡng Nhân tố kháng dưỡng được định nghĩa là các cơ chất có trong thực liệu thức ăn sinh ra từ quá trình chuyển hóa tự nhiên của loài và một số cơ chế khác 8 (như: sự bất hoạt của một số dưỡng chất, làm giảm các tiến trình tiêu hóa hoặc hiệu quả chuyển hóa thức ăn) đưa đến những ảnh hưởng trái ngược với tiến trình hấp thu dinh dưỡng. Nhân tố kháng dinh dưỡng không phải là đặc tính nội tại của hợp chất mà tùy thuộc vào quá trình tiêu hóa của vật nuôi ăn chúng vào. Các nhân tố kháng trypsin (trypsin inhibitors) bị phân hủy trong dạ cỏ loài nhai lại nên những ảnh hưởng mà chúng gây ra chủ yếu được nhận thấy trên gia súc dạ dày đơn (Cheeke và Shull, 1985).

Các chất kháng dưỡng được tìm thấy trong các nguồn protein thực vật là: các acid amin độc, acid oxalic, glycosides, phytohemagglutinins, polyphenolics và triterpenes (Kumar, 1991). Theo Văn Thị Ái Nguyên (2017), trong thử nghiệm sơ bộ định tính các hợp chất kháng dưỡng (bằng các thử nghiệm sinh hóa sơ bộ) cho thấy không có các alkaloids và các tanins trong cây Trichanthera gigantea và hàm lượng saponin và steroid thì rất thấp. Trong thử nghiệm khác chính xác hơn cho thấy hàm lượng phenol tổng số là 450 ppm và steroids là 0,062%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ