Tổng quan nghiên cứu

Trong ngành chăn nuôi gia cầm thương phẩm, chi phí thức ăn chiếm tới 65% đến 70% tổng giá thành sản xuất. Áp lực biến động giá nguyên liệu nhập khẩu như khô dầu đậu tương và ngô đòi hỏi ngành chăn nuôi phải tìm kiếm các nguồn đạm thực vật thay thế tại chỗ. Cây chè đại (Trichanthera gigantea) là cây thức ăn xanh giàu dinh dưỡng với năng suất sinh khối đạt 50 đến 60 tấn/ha/năm, hàm lượng protein thô trong vật chất khô dao động từ 21% đến 26%, cùng hàm lượng canxi và carotenoid tự nhiên dồi dào. Tuy nhiên, việc ứng dụng bột lá chè đại vào khẩu phần nuôi gà thịt bản địa lai tại các vùng sinh thái đặc thù vẫn chưa được định lượng tỷ lệ tối ưu.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của các tỷ lệ bổ sung bột lá chè đại (2%, 4% và 6%) vào khẩu phần thức ăn đến khả năng sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa dinh dưỡng và chất lượng thân thịt của giống gà Mía lai Lương Phượng. Nghiên cứu được thực hiện tại Trại chăn nuôi gia cầm thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020 trên tổng đàn 360 cá thể gà từ 4 đến 12 tuần tuổi.

Kết quả đề tài mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn khi xác lập công thức thức ăn tối ưu giúp nâng khối lượng xuất chuồng của gà lên 2036,16 g/con, giảm hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) xuống mức 3,04 kg thức ăn/kg tăng trọng và duy trì tỷ lệ nuôi sống tuyệt đối 100%. Đây là giải pháp dinh dưỡng xanh giúp giảm giá thành chăn nuôi và nâng cao chất lượng thịt gia cầm bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng năng lượng - axit amin trong dinh dưỡng gia cầm và cơ chế tích lũy sắc tố tự nhiên ở động vật đơn vị. Theo nguyên lý cân bằng dinh dưỡng, khẩu phần của gà thịt phải đáp ứng mức năng lượng trao đổi (ME) là 3000 Kcal/kg và tỷ lệ protein thô (CP) đạt 18% để đảm bảo tối đa hóa tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối. Khi bổ sung bột lá thực vật có năng lượng thấp, nghiên cứu áp dụng mô hình cân đối lipid bằng dầu thực vật để giữ ổn định mức ME khẩu phần.

Lý thuyết về chuyển hóa sắc tố thực vật chỉ ra rằng gia cầm không thể tự tổng hợp carotenoid mà phải hấp thu từ thức ăn để lắng đọng vào da, mỡ và cơ bắp. Cây chè đại chứa dồi dào xanthophyll và beta-carotene, giúp cải thiện độ vàng cảm quan của da thịt gà. Nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cốt lõi: Sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi), Sinh trưởng tuyệt đối (tốc độ tăng trọng g/con/ngày), Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và Chỉ số sản xuất (PI).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm sơ cấp thu thập trực tiếp từ đàn gà thí nghiệm 360 con Mía lai Lương Phượng giai đoạn từ 4 đến 12 tuần tuổi (28 đến 84 ngày tuổi). Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh ngẫu nhiên hoàn toàn với 4 nghiệm thức: Lô đối chứng (khẩu phần cơ sở 0% bột lá chè đại), Lô thí nghiệm 1 (bổ sung 2% bột lá chè đại), Lô thí nghiệm 2 (bổ sung 4% bột lá chè đại) và Lô thí nghiệm 3 (bổ sung 6% bột lá chè đại). Mỗi nghiệm thức có quy mô 90 con, được chia thành 3 lần lặp lại (30 con/lô lặp lại), nuôi nhốt chuồng hở trên nền đệm lót với mật độ 6 con/m2. Khối lượng khởi điểm lúc 4 tuần tuổi của các lô đồng đều ở mức 381,72 g đến 386,10 g.

Phương pháp phân tích số liệu dựa trên thống kê sinh vật học ứng dụng. Các chỉ tiêu về lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (FI) và khối lượng cơ thể hàng tuần được ghi nhận định kỳ. Tại thời điểm kết thúc 12 tuần tuổi, phương pháp mổ khảo sát thân thịt theo tiêu chuẩn quốc gia được áp dụng trên 24 cá thể (6 con/lô, tỷ lệ 3 trống : 3 mái) để đánh giá tỷ lệ thân thịt, cơ ngực, cơ đùi và phân tích thành phần hóa sinh. Toàn bộ dữ liệu được xử lý phương sai (ANOVA) nhằm kiểm định độ tin cậy với mức ý nghĩa thống kê P < 0,05 và P < 0,001.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực nghiệm cho thấy tỷ lệ nuôi sống của đàn gà đạt tuyệt đối 100% ở toàn bộ các lô từ 4 đến 12 tuần tuổi, chứng minh bột lá chè đại an toàn với hệ tiêu hóa của gia cầm. Về sinh trưởng tích lũy, gà ở Lô thí nghiệm 2 (4% bột lá chè đại) đạt khối lượng cao nhất là 2036,16 g/con ở 12 tuần tuổi, cao hơn lô đối chứng (1947,74 g/con) là 84,42 g (tăng 4,33% với P < 0,001). Lô thí nghiệm 1 (2% bột lá) đạt 2005,65 g/con, cao hơn đối chứng 57,91 g (P < 0,001). Ngược lại, Lô thí nghiệm 3 (6% bột lá) chỉ đạt 1949,44 g/con, tương đương lô đối chứng (P > 0,05).

Về sinh trưởng tuyệt đối toàn kỳ (4-12 tuần tuổi), Lô thí nghiệm 2 dẫn đầu với tốc độ tăng trọng 29,54 g/con/ngày, vượt mức 27,96 g/con/ngày của lô đối chứng (tăng 5,65%). Lượng thức ăn thu nhận trung bình dao động từ 87,84 g đến 89,95 g/con/ngày và không có sự sai khác thống kê giữa các lô (P > 0,05). Về hiệu quả sử dụng thức ăn, Lô thí nghiệm 2 đạt hệ số FCR tối ưu nhất là 3,04 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, giảm 3,18% tiêu tốn thức ăn so với lô đối chứng (3,14 kg/kg). Lô thí nghiệm 1 đạt FCR là 3,09 kg/kg (giảm 1,59%), trong khi Lô thí nghiệm 3 tiêu tốn 3,15 kg/kg.

Thảo luận kết quả

Khả năng tăng trưởng vượt trội ở mức bổ sung 4% bột lá chè đại xuất phát từ việc cung cấp cân đối nguồn đạm hữu dụng, khoáng canxi dạng cystoliths dễ hấp thu và hàm lượng chất xơ vừa phải (4,14% xơ thô khẩu phần), kích thích nhu động đường ruột và hệ vi sinh vật có lợi phát triển. Tuy nhiên, khi nâng tỷ lệ lên 6%, hàm lượng xơ thô tăng lên 4,31% kết hợp với các hợp chất thứ cấp làm giảm tốc độ tiêu hóa dưỡng chất, khiến gà ở Lô 3 không đạt được mức tăng trọng kỳ vọng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu trước đây về việc bổ sung 2% đến 4% bột lá keo giậu hay bột cỏ Stylo trên gà Lương Phượng. Dữ liệu thực nghiệm có thể được biểu diễn trực quan qua đồ thị sinh trưởng tích lũy hình chữ S và biểu đồ cột so sánh hệ số FCR, thể hiện rõ ưu thế nổi bật của nghiệm thức 4% bột lá chè đại. Bên cạnh năng suất cơ học, đàn gà ăn bột lá chè đại có biểu hiện cảm quan vượt trội với da chân vàng đậm, da ngực bóng đẹp và lông mượt do sự tích tụ xanthophyll tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Phối trộn khẩu phần chuẩn 4% bột lá chè đại: Các trang trại và gia trại chăn nuôi gia cầm cần áp dụng ngay tỷ lệ phối trộn 4% bột lá chè đại vào thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà Mía lai Lương Phượng từ 4 đến 12 tuần tuổi. Mục tiêu hướng tới là duy trì khối lượng xuất chuồng trên 2000 g/con và đưa hệ số FCR về dưới ngưỡng 3,05 kg thức ăn/kg tăng trọng trong suốt chu kỳ nuôi.
  2. Mở rộng vùng trồng thâm canh cây chè đại: Nông hộ và hợp tác xã nông nghiệp cần tận dụng đất đồi dốc, đất vườn tạp để trồng xen canh chè đại với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75 m x 0,75 m). Kế hoạch thực hiện trong vòng 6 đến 12 tháng để đạt năng suất sinh khối 50 đến 60 tấn/ha/năm, chu kỳ thu hoạch định kỳ 2 đến 3 tháng một lứa cắt.
  3. Chuẩn hóa quy trình thu hoạch và bảo quản bột lá: Cơ sở chế biến thức ăn cần thu hoạch cành lá non cách mặt đất 40 cm, sấy ở nhiệt độ 60 độ C trong 1 đến 2 giờ hoặc phơi bạt nắng to đến độ ẩm dưới 10% rồi nghiền qua rây 2 mm. Sản phẩm bột lá phải được đóng túi nilon kín khí và sử dụng trong vòng 3 tháng để tránh hao hụt hàm lượng carotenoid xuống dưới 200 mg/kg.
  4. Tổ chức tập huấn và chuyển giao kỹ thuật dinh dưỡng: Trung tâm Khuyến nông địa phương cùng các cơ quan quản lý nông nghiệp cần triển khai các lớp tập huấn kỹ thuật tự phối trộn thức ăn sinh học trong các quý của năm, giúp người nuôi cắt giảm 5% đến 10% chi phí mua thức ăn công nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chủ trang trại và hộ chăn nuôi gà thịt: Tiếp cận công thức phối trộn thức ăn tiết kiệm chi phí, hạ hệ số FCR xuống 3,04 và nâng cao màu sắc da chân, ngoại hình gà thương phẩm để gia tăng giá bán trên thị trường.
  2. Hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi: Khai thác dữ liệu dinh dưỡng của cây chè đại để sản xuất các dòng sản phẩm cám thảo mộc, premix hữu cơ thay thế phẩm màu tổng hợp trong chăn nuôi an toàn sinh học.
  3. Giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Chăn nuôi - Thú y: Sử dụng luận văn làm tài liệu nghiên cứu chuẩn về thiết kế thí nghiệm phân lô, phương pháp đánh giá phẩm chất thân thịt và cơ chế sinh hóa của sắc tố thực vật trên gia cầm.
  4. Cán bộ quản lý nông nghiệp và chuyên viên khuyến nông: Vận dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, phát triển nguồn cây thức ăn xanh bản địa thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ bổ sung bột lá chè đại bao nhiêu là tối ưu nhất cho gà Mía lai Lương Phượng?

Mức bổ sung 4% bột lá chè đại mang lại hiệu quả sinh học và kinh tế cao nhất. Ở tỷ lệ này, gà đạt khối lượng xuất chuồng 2036,16 g/con (cao hơn đối chứng 4,33%) và hệ số FCR giảm xuống 3,04. Bổ sung vượt quá 6% sẽ làm tăng hàm lượng xơ thô, gây cản trở hấp thu dinh dưỡng.

Bột lá chè đại có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sức khỏe của đàn gà không?

Nghiên cứu khẳng định tỷ lệ nuôi sống đạt tuyệt đối 100% trên cả 360 cá thể qua 8 tuần thí nghiệm. Cây chè đại chứa hàm lượng khoáng cao 20% đến 25% vật chất khô, giàu canxi hữu cơ giúp gà phát triển khung xương vững chắc, hoàn toàn không gây tác dụng phụ đường tiêu hóa.

Quy trình chế biến bột lá chè đại cần lưu ý điều gì để bảo toàn dưỡng chất?

Lá chè đại sau khi thu hoạch cần được sấy ở 60 độ C trong 1 đến 2 giờ hoặc phơi nắng nhanh để đạt độ ẩm 10% rồi nghiền qua rây 2 mm. Bột lá cần bảo quản trong bao kín khí và dùng trong vòng 90 ngày nhằm tránh oxy hóa làm suy giảm hàm lượng carotenoid tự nhiên.

Bổ sung bột lá chè đại có giúp cải thiện chất lượng cảm quan của thịt gà không?

Có, nhờ hàm lượng xanthophyll phong phú trong lá chè đại, gà nuôi có biểu hiện da chân vàng đậm, da ngực bóng đẹp và lông mượt hơn rõ rệt. Quá trình tích tụ sắc tố hữu cơ tự nhiên này làm tăng sức hấp dẫn thương phẩm mà không cần dùng hóa chất tạo màu.

Sử dụng bột lá chè đại có giúp giảm chi phí sản xuất thức ăn không?

Sử dụng 4% bột lá chè đại giúp giảm FCR từ 3,14 xuống 3,04, tiết kiệm 0,1 kg thức ăn trên mỗi kg tăng trọng. Việc tận dụng nguồn cây chè đại sẵn có với năng suất 50 đến 60 tấn/ha/năm giúp giảm phụ thuộc vào nguồn đạm nhập khẩu và nâng cao biên lợi nhuận cho hộ nuôi.

Kết luận

  • Bổ sung 4% bột lá chè đại vào khẩu phần ăn giúp gà Mía lai Lương Phượng đạt khối lượng xuất chuồng tối ưu 2036,16 g/con lúc 12 tuần tuổi.
  • Giảm hệ số chuyển hóa thức ăn FCR xuống mức 3,04 kg/kg tăng khối lượng, tiết kiệm 3,18% lượng thức ăn tiêu thụ so với khẩu phần cơ sở.
  • Đảm bảo tỷ lệ nuôi sống tuyệt đối 100%, nâng cao sức đề kháng và cải thiện sắc tố da, mỡ gà vàng đẹp tự nhiên.
  • Xác định ngưỡng bổ sung an toàn dưới 6% để ngăn ngừa tác động tiêu cực của hàm lượng xơ thô đến sinh trưởng gia cầm.
  • Đóng góp giải pháp khoa học bền vững về việc sử dụng nguồn cây thức ăn xanh địa phương để hạ giá thành chăn nuôi gia cầm thịt.

Công trình nghiên cứu đã cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho việc ứng dụng cây Trichanthera gigantea trong chăn nuôi nông hộ và trang trại. Trong 6 đến 12 tháng tới, các cơ sở chăn nuôi cần nhanh chóng nhân rộng mô hình bổ sung 4% bột lá chè đại để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và xây dựng chuỗi sản phẩm gia cầm sạch, chất lượng cao.