Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng viên nang chứa pellet lansoprazol bao tan ở ruột

Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng viên nang chứa pellet lansoprazol bao tan ở ruột, ứng dụng trong điều trị bệnh dạ dày.

Trường đại học

Học viện Quân y

Tác giả

Lương Quang Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

142
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. VÀI NÉT VỀ LANSOPRAZOL

1.1.1. Công thức và tính chất

1.1.2. Độ ổn định của lansoprazol

1.1.3. Dược động học

1.1.4. Tác dụng dược lý và một số dạng bào chế

1.1.5. Các phương pháp định lượng lansoprazol

1.1.5.1. Định lượng lansoprazol trong các dạng bào chế
1.1.5.2. Định lượng lansoprazol trong dịch sinh học

Tóm tắt

I. Nghiên cứu bào chế

Nghiên cứu bào chế viên nang lansoprazol bao tan ở ruột tập trung vào việc tối ưu hóa công thức và quy trình sản xuất. Lansoprazol là một thuốc ức chế bơm proton, có độ ổn định thấp trong môi trường acid dạ dày. Do đó, việc bào chế dạng pellet bao tan ở ruột giúp bảo vệ dược chất khỏi sự phân hủy trong dạ dày và giải phóng dược chất tại ruột non. Công thức bào chế sử dụng các tá dược tương hợp và màng bao kháng acid để đảm bảo độ ổn định và hiệu quả của thuốc. Phương pháp bào chế bao gồm phun sấy và bồi dần, giúp tạo ra các pellet có kích thước đồng đều và độ tan ổn định.

1.1. Công thức bào chế

Công thức bào chế viên nang lansoprazol bao tan ở ruột bao gồm các thành phần chính như lansoprazol, tá dược kiềm, và màng bao tan ở ruột. Tá dược kiềm giúp ổn định dược chất trong môi trường acid, trong khi màng bao tan ở ruột đảm bảo giải phóng dược chất tại ruột non. Các tá dược được lựa chọn dựa trên độ tương hợp với dược chất và khả năng bảo vệ dược chất khỏi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng.

1.2. Phương pháp bào chế

Phương pháp bào chế viên nang lansoprazol bao tan ở ruột bao gồm các bước như phun sấy, bồi dần, và đóng nang. Phun sấy được sử dụng để tạo ra các pellet có kích thước nhỏ và đồng đều, trong khi bồi dần giúp tăng độ ổn định của dược chất. Quy trình đóng nang được thực hiện trong điều kiện kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để đảm bảo chất lượng sản phẩm cuối cùng.

II. Đánh giá sinh khả dụng

Đánh giá sinh khả dụng của viên nang lansoprazol bao tan ở ruột được thực hiện thông qua các nghiên cứu dược động học trên động vật thực nghiệm. Sinh khả dụng của thuốc được xác định bằng cách so sánh nồng độ dược chất trong huyết tương sau khi sử dụng viên nang thử nghiệm và viên đối chứng. Kết quả cho thấy viên nang lansoprazol bao tan ở ruột có sinh khả dụng cao và ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn dược điển Mỹ.

2.1. Phương pháp đánh giá

Phương pháp đánh giá sinh khả dụng bao gồm việc đo lường nồng độ lansoprazol trong huyết tương bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Các thông số dược động học như thời gian đạt nồng độ tối đa (Tmax), nồng độ tối đa (Cmax), và diện tích dưới đường cong (AUC) được tính toán để đánh giá hiệu quả hấp thu của thuốc.

2.2. Kết quả đánh giá

Kết quả đánh giá cho thấy viên nang lansoprazol bao tan ở ruột có sinh khả dụng tuyệt đối trên 80%, cao hơn so với các dạng bào chế khác. Thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương sau 1,2 - 2,1 giờ và có thời gian bán thải khoảng 1,5 giờ. Điều này chứng tỏ viên nang lansoprazol bao tan ở ruột có hiệu quả cao trong việc điều trị các bệnh lý dạ dày.

III. Ứng dụng thực tiễn

Ứng dụng thực tiễn của viên nang lansoprazol bao tan ở ruột trong điều trị các bệnh lý dạ dày như loét dạ dày tá tràng và trào ngược dạ dày thực quản. Thuốc có hiệu quả cao trong việc ức chế tiết acid dạ dày và làm lành vết loét. Việc sản xuất thành công viên nang lansoprazol bao tan ở ruột tại Việt Nam sẽ góp phần giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và phát triển ngành công nghiệp dược trong nước.

3.1. Hiệu quả điều trị

Hiệu quả điều trị của viên nang lansoprazol bao tan ở ruột được đánh giá thông qua các nghiên cứu lâm sàng. Thuốc có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày mạnh và làm lành vết loét nhanh chóng. Viên nang lansoprazol bao tan ở ruột cũng được sử dụng trong phác đồ điều trị nhiễm Helicobacter pylori, mang lại hiệu quả cao trong việc diệt trừ vi khuẩn này.

3.2. Phát triển công nghiệp dược

Phát triển công nghiệp dược trong nước thông qua việc sản xuất viên nang lansoprazol bao tan ở ruột sẽ giúp giảm chi phí và tăng khả năng tiếp cận của bệnh nhân với thuốc chất lượng cao. Nghiên cứu này cũng mở ra hướng phát triển mới cho các dạng bào chế khác của lansoprazol và các thuốc ức chế bơm proton khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng viên nang chứa pellet lansoprazol bao tan ở ruột

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. VÀI NÉT VỀ LANSOPRAZOL 1. Công thức và tính chất Lansoprazol (LPZ) là một thuốc điều trị loét dạ dày - tá tràng thuộc nhóm ức chế bơm proton, về bản chất là dẫn xuất benzimidazol có tên khoa học: 2-[[[3-methyl-4-(2,2,2-trifluoroethoxy)-2-pyridyl]methyl]sulfinyl]-1H- benzimidazol. Công thức phân tử là C16H14F3N3O2S, khối lượng 369,36 [3].

Công thức cấu tạo của LPZ * Nguồn: theo Jain K. (2007) [4] LPZ ở dạng bột kết tinh trắng đến trắng hơi nâu, không mùi. Thực tế không tan trong nước, khó tan trong n-hexan, ether, ethyl acetat, acetonitril, dicloromethan, dễ tan trong dimethylformamid, tan trong methanol, hơi tan trong ethanol. Độ tan của LPZ trong một số dung môi hữu cơ như aceton, isopropyl alcol, n-propanol, isobutyl acetat, n-butanol tăng lên khi nhiệt độ tăng [5].

Nhiệt độ nóng chảy từ 178 - 182ºC [6]. LPZ là một chất lưỡng tính với pKa= 4,15 (do nguyên tố N của nhân pyridin), 8,84 và 1,33 (do nhóm N-H của nhân benzimidazol) [7]. Độ tan của LPZ trong nước và trong đệm phosphat pH 6,8 (n=3) Môi trường Độ tan (μg/ml) (%) ± SD Nước (250C ) 34,478 ± 0,413 (18 giờ) 33,571 ± 5,46 (24 giờ) pH 6,8 (370C) 44,162 ± 8,259 (24 giờ) 43,892 ± 1,46 (32 giờ) * Nguồn: theo Pasic M. thì độ tan của LPZ tăng khi pH môi trường tăng.

LPZ bị phân ly ở pH 9,0 và không bị phân ly ở các pH trung tính dưới 9,0 [9]. Thử nghiệm của Wu C. và cộng sự cũng cho kết luận tương tự về độ tan của LPZ liên quan đến pH môi trường, độ tan của LPZ cao nhất ở pH 9,0 là 1291,5 µg/ml, thấp nhất ở pH 3,0 và tăng dần khi thử ở pH 5,0; 7,0; 9,0. Tuy nhiên, ở pH 11,0 thì độ tan LPZ lại giảm đi chỉ còn 33,5 µg/ml [10].

Độ ổn định của lansoprazol Các thuốc ức chế bơm proton (bao gồm cả LPZ) có cấu trúc benzimidazol vừa có tính acid (do hiệu ứng của nhóm sulfonyl), vừa có tính base (do nitơ trong nhân pyridin). Cấu trúc phân tử có chứa nhân pyridin và nhóm sulfoxyd làm cho các thuốc trong nhóm dễ bị oxy hóa, đặc biệt khi ở pH thấp như môi trường acid dạ dày và cũng chịu ảnh hưởng dưới tác động của ánh sáng, nhiệt độ và độ ẩm cao. LPZ rất không bền dưới tác động của độ ẩm, nhiệt độ và ánh sáng. Vì vậy Dược điển Mỹ 35 quy định bảo quản LPZ trong bao bì kín, tránh ánh sáng và nhiệt độ cao.

Đồng thời cho phép hàm ẩm đối với nguyên liệu rất thấp, dưới 0,1 % và quy định tổng tỷ lệ các tạp chất so với dược chất không quá 0,6 % [11]. Do đặc tính không ổn định với nhiệt và ẩm - đây là hai yếu tố thường xuyên tác động trong quá trình bào chế các dạng thuốc rắn nên việc bào chế pellet LPZ rất khó đảm bảo độ ổn định của dược chất ngay trong quá trình bào chế. Trong nhóm thuốc ức chế bơm proton, LPZ là chất có tính ổn định rất thấp [2]. Dạng hỗn dịch ở 220C, OPZ ổn định trong 14 ngày trong khi LPZ chỉ ổn định được 8 giờ.

Ở nhiệt độ 4 0C thì LPZ cũng ổn định được trong 14 ngày trong khi của OPZ là 45 ngày [12]. Trong môi trường nước ở 370C thì OPZ mặc dù có thời gian bán hủy ở pH dưới 4,0 rất thấp (10 phút) nhưng ở pH 6,0 - 8,0 thì thời gian bán hủy tăng lên là 18 giờ, ở pH 11,0 thời gian bán hủy lên tới 300 ngày [13]. Thời gian 7 bán hủy của PPZ là 2,8 giờ ở pH 5,0 và 220 giờ ở pH 7,8. Khảo sát độ ổn định của OPZ, LPZ, PPZ trong các dung dịch muối ở pH 4,0, 5,0 và 6,0 nhận thấy độ ổn định của các chất này được xếp theo thứ tự: đệm phosphat < trinatri citrat ≤ đệm citrat ≤ đệm acetat < acid citric ≤ calci carbonat < natri bicarbonat < natri clorid < nước, trong đó PPZ có độ ổn định cao hơn OPZ và LPZ [14].

Thời gian phân hủy của các thuốc ức chế bơm proton trong môi trường nước ở 370C cho thấy LPZ là chất có thời gian phân hủy ngắn nhất, sau đó là OPZ, còn PPZ có thời gian phân hủy dài nhất ở pH 2,0 và 7,0 [15]. Thời gian phân hủy của các thuốc ức chế bơm proton trong môi trường nước ở 370C Môi trường Lansoprazol Omeprazol Pantoprazol nước pH 2,0 85 giây 105 giây 195 giây pH 7,0 13 giờ 23 giờ 39 giờ * Nguồn: theo Pilbrant Å. (1993) [15] Trong dung dịch methanol - đệm phosphat (5:95) pH 3,0 thì thời gian phân hủy của LPZ là 4 phút. Ở nhiệt độ 25 0C thì thời gian phân hủy của LPZ ở pH 5,0 là 30 phút, tăng lên là 18 giờ ở pH 7,0.

Trong môi trường nước thì trên 80 % LPZ bị phân hủy sau 72 giờ nếu có ánh sáng nhưng nếu để trong bóng tối thì lượng LPZ bị phân hủy giảm xuống còn 40 %, nếu ở môi trường kiềm pH 7,0 và 9,0 trong bóng tối thì LPZ ổn định sau 72 giờ [8]. Ở điều kiện pH 4,0 trong bóng tối thì LPZ bị phân huỷ tới 50 % [16]. sử dụng phương pháp điện phân để đánh giá độ ổn định của LPZ trong môi trường có pH thay đổi từ 2,0 đến 8,0. Kết quả nghiên cứu nhận thấy ở pH 2,0 thì LPZ phân hủy chỉ sau 15 phút.

Thời gian này tăng lên là 24 phút ở pH 3,0; 86 phút ở pH 4,0; 18 giờ ở pH 6,0 và 34 giờ ở pH 8,0 [17]. và cộng sự, LPZ không ổn định ở nhiệt độ và độ ẩm cao khi ở trạng thái rắn. Sự biến đổi được mô tả như sau: Ở thời điểm ban đầu thì LPZ có màu trắng hơi vàng với hàm lượng là 100 %, sau 4 phút ở nhiệt độ 400C ở điều kiện độ ẩm thông thường và độ ẩm 75 % thì LPZ chuyển màu nâu vàng nhạt tới nâu nhạt với hàm lượng chỉ còn lần lượt là 99,1 % và 94,7 %, sau 3 phút ở 300C thì hàm lượng chỉ còn 95,2 % (LPZ chuyển màu nâu vàng), thử nghiệm tiếp tục ở nhiệt độ 60 0C sau 3 phút thì dược chất ngả màu nâu đen sẫm với hàm lượng sụt giảm rất mạnh (chỉ còn 65,5 %) [18]. Các phản ứng phân hủy dược chất (như LPZ) thường được xúc tác bởi ánh sáng.

Khi tiếp xúc với bức xạ điện từ, dược chất sẽ hấp thụ bước sóng đặc trưng và làm cho tốc độ phân hủy tăng lên. Sự phân hủy bởi ánh sáng phụ thuộc vào độ dài và cường độ của sóng ánh sáng cùng với phản ứng oxy hóa khử làm biến đổi màu sắc của dược chất (là biểu hiện rõ rệt của sự phân hủy). Để tăng độ ổn định của LPZ, bảo vệ dược chất tránh bị phân hủy bởi các tác nhân (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, acid dịch vị) và đảm bảo hiệu quả điều trị, các chế phẩm của LPZ thường được bào chế dưới dạng hạt hoặc pellet được bao kháng dịch vị rồi tiến hành đóng nang cứng hoặc dập viên. Trong công thức bào chế nên sử dụng dược chất có độ tinh khiết cao, các tá dược tương hợp với dược chất trong đó đáng chú ý là vai trò của tá dược kiềm giúp LPZ ổn định hơn khi tiếp xúc với môi trường acid, dung môi bào chế cũng cần tương hợp với dược chất nếu được sử dụng theo từng phương pháp bào chế cụ thể (ví dụ: Phương pháp bồi dần, phương pháp phun sấy.

Phương pháp và quy trình bào chế hạt hoặc pellet LPZ cần hạn chế sự tiếp xúc giữa dược chất với nhiệt độ, độ ẩm cao và môi trường acid. Bên cạnh đó, cần phải sử dụng các màng bao bảo vệ cũng như màng bao tan ở ruột để hạn chế sự tiếp xúc của LPZ với các tác nhân gây mất ổn định. Việc đóng nang hay sử dụng những vật liệu bao gói phù hợp (như nang cứng ép vỉ nhôm - nhôm) cũng cần thiết để tăng độ ổn định của dạng bào chế chứa LPZ. Dược động học LPZ hấp thu nhanh, nồng độ tối đa trung bình đạt được trong khoảng 1,2 - 2,1 giờ sau khi uống, sinh khả dụng tuyệt đối trên 80 % [19], [20].

Cả nồng độ thuốc tối đa và diện tích dưới đường cong (AUC) đều giảm khoảng 50 % nếu dùng thuốc sau khi ăn 30 phút nhưng không bị ảnh hưởng nếu dùng thuốc trước khi ăn [3], [21]. Dược động học của các thuốc trong nhóm ức chế bơm proton dùng theo đường uống Thông số Esome Lanso Ome Panto Rabe prazol prazol prazol prazol prazol Sinh khả dụng 50 - 80 80 - 90 25 - 40 77 52 tuyệt đối (%) Thời gian đạt Cmax (giờ) 1 - 3,5 1,2 - 2,1 1-6 2-4 3-5 T1/2 (giờ) 0,8 - 1,3 0,9 - 2,1 0,5 - 1,2 0,8 - 2 0,6 - 1,4 Liên kết protein (%) 95 97 95 98 96 Chuyển hóa qua gan Có Có Có Có Có Thải trừ qua nước tiểu Không Không Không Không Không đáng kể đáng kể đáng kể đáng kể đáng kể * Nguồn: theo Shi S. (2008) [20] LPZ liên kết với protein huyết tương khoảng 97 %. LPZ được chuyển hóa nhiều ở gan nhờ hệ enzym CYP (CYP3A4 và CYP2C19) để thành 2 chất chuyển hóa chính là sulfon LPZ và hydroxy LPZ [3], [22].

Các chất chuyển hóa không có hoặc có rất ít tác dụng chống tiết acid. Khoảng 20 % thuốc được bài tiết qua mật và nước tiểu. Thời gian bán thải của thuốc là 1,5 (± 1,0) giờ. Thải trừ LPZ bị kéo dài ở người suy gan nặng nhưng không thay đổi ở người bị suy thận nặng.

Do đó phải giảm liều đối với người bị bệnh gan nặng [3]. Tác dụng dược lý và một số dạng bào chế 1. Tác dụng dược lý - Cơ chế tác dụng: LPZ liên kết không thuận nghịch với H +/K+ ATPase trên bề mặt tế bào thành dạ dày, do đó ức chế sự vận chuyển cuối cùng các ion hydrogen vào trong dạ dày. LPZ ức chế bài tiết acid dạ dày do bất kì nguyên nhân nào [3].

- Liều lượng và chỉ định: + Điều trị cấp viêm thực quản có trợt loét ở người bị trào ngược dạ dày - thực quản: người lớn dùng 30 mg/lần/ngày trong 4 - 8 tuần, có thể thêm 8 tuần nữa nếu chưa khỏi. Điều trị duy trì để giảm tái phát: người lớn 15 mg/ngày. + Điều trị loét dạ dày tá tràng cấp: 15 - 30 mg/lần/ngày trong 4 - 8 tuần hoặc đến khi khỏi. Dùng phối hợp với amoxicilin và clarithromycin trong điều trị nhiễm Helicobater pylori ở người loét dạ dày tá tràng thể hoạt động [3], [23].

Có thể sử dụng LPZ để dự phòng loét dạ dày tá tràng do các thuốc chống viêm không steroid gây ra [24], [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên cứu bào chế và đánh giá sinh khả dụng viên nang lansoprazol bao tan ở ruột cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình bào chế và đánh giá sinh khả dụng của viên nang lansoprazol, một loại thuốc quan trọng trong điều trị các bệnh liên quan đến dạ dày. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các phương pháp bào chế mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của sinh khả dụng trong việc đảm bảo hiệu quả điều trị. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức cải thiện khả năng hấp thụ thuốc, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về lĩnh vực này, hãy tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ dược học nghiên cứu bào chế và xác định sinh khả dụng viên nén quetiapin 200 mg giải phóng kéo dài. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về bào chế và sinh khả dụng của các dạng thuốc khác, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực dược phẩm.