Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu bào chế tiểu phân nano Artesunat hướng điều trị ung thư

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu bào chế tiểu phân nano artesunat pha tiêm hướng điều trị ung thư, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

222
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Artesunat và ứng dụng trong điều trị ung thư

Artesunat (ART) là một dẫn chất của artemisinin, được biết đến với tác dụng chống sốt rét. Gần đây, nghiên cứu đã chỉ ra khả năng ức chế tế bào ung thư của ART. Tuy nhiên, ART có độ ổn định thấp, dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ, độ ẩm và pH. Để khắc phục, công nghệ nano được áp dụng để bào chế tiểu phân nano ART, nhằm tăng sinh khả dụng và hiệu quả điều trị. Hệ thống phân phối thuốc nano giúp giải phóng thuốc tại đích, giảm tác dụng phụ và tăng hiệu quả điều trị ung thư.

1.1. Tính chất vật lý và hóa học của Artesunat

ART là bột kết tinh trắng, tan tốt trong nước và các dung môi hữu cơ như dicloromethan và ethanol. ART là một acid yếu với pKa = 4.6, có khả năng tan một phần trong nước ở pH 7.4. Điều này làm ART phù hợp với dạng thuốc tiêm khi chuyển sang dạng muối natri. Tuy nhiên, ART kém ổn định ở nhiệt độ cao và độ ẩm, đòi hỏi bảo quản ở nhiệt độ thấp (2-8°C) để duy trì hiệu lực.

1.2. Cơ chế ức chế tế bào ung thư của Artesunat

ART tác động lên tế bào ung thư thông qua việc tạo ra các gốc oxy hoạt động (ROS), gây tổn thương DNA và dẫn đến quá trình apoptosis. Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của ART trong việc ức chế sự phát triển của nhiều dòng tế bào ung thư, bao gồm ung thư phổi và ung thư vú.

II. Công nghệ bào chế tiểu phân nano Artesunat

Công nghệ nano được sử dụng để bào chế tiểu phân nano ART nhằm tăng độ ổn định và hiệu quả điều trị. Poly(lactic-co-glycolic acid) (PLGA) là polyme tổng hợp được sử dụng phổ biến do khả năng phân hủy sinh học và kiểm soát giải phóng thuốc. Chitosan (CS)PEG được thêm vào để cải thiện đặc tính bề mặt của tiểu phân nano, giúp kéo dài thời gian tuần hoàn và tăng khả năng phân phối thuốc đến khối u.

2.1. Phương pháp bào chế tiểu phân nano ART PLGA

Tiểu phân nano ART/PLGA được bào chế bằng phương pháp nhũ hóa bốc hơi dung môi. Quy trình này bao gồm việc hòa tan ART và PLGA trong dung môi hữu cơ, sau đó nhũ hóa với nước và bốc hơi dung môi để tạo tiểu phân nano. Chitosan được hấp phụ lên bề mặt tiểu phân nano để tăng tính bám dính sinh học.

2.2. Đánh giá đặc tính lý hóa của tiểu phân nano

Các đặc tính lý hóa của tiểu phân nano ART/PLGA được đánh giá qua kích thước tiểu phân, hệ số đa phân tán (PDI), và khả năng giải phóng thuốc. Kết quả cho thấy tiểu phân nano có kích thước nhỏ (dưới 200 nm) và PDI thấp, đảm bảo tính đồng nhất. Khả năng giải phóng thuốc được kiểm soát, giúp tăng hiệu quả điều trị.

III. Bào chế và đánh giá bột đông khô pha tiêm chứa tiểu phân nano Artesunat

Bột đông khô pha tiêm chứa tiểu phân nano ART được bào chế để tăng độ ổn định và tiện lợi trong sử dụng. Quy trình bao gồm đông khô hỗn dịch tiểu phân nano với các tá dược như saccarosemannitol. Bột đông khô được đánh giá về độ ổn định, khả năng phân tán lại và hiệu quả điều trị.

3.1. Quy trình bào chế bột đông khô

Hỗn dịch tiểu phân nano ART/PLGA được đông khô bằng phương pháp lyophilization với sự hỗ trợ của các tá dược tạo bánh. Saccarosemannitol được sử dụng để duy trì cấu trúc tiểu phân nano trong quá trình đông khô và phân tán lại.

3.2. Đánh giá độ ổn định và hiệu quả điều trị

Bột đông khô được đánh giá về độ ổn định trong điều kiện bảo quản khác nhau. Kết quả cho thấy bột đông khô ổn định trong 12 tháng ở nhiệt độ 5°C. Hiệu quả điều trị được đánh giá qua thử nghiệm in vitroin vivo, cho thấy khả năng ức chế tế bào ung thư và giảm kích thước khối u đáng kể.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã thành công trong việc bào chế tiểu phân nano ART và bột đông khô pha tiêm, mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư. Công nghệ nano giúp tăng độ ổn định và sinh khả dụng của ART, đồng thời giảm thiểu tác dụng phụ. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng điều trị mới cho các bệnh nhân ung thư, đặc biệt là những trường hợp kháng thuốc.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình bào chế tiểu phân nano ART và bột đông khô pha tiêm, đề xuất tiêu chuẩn cơ sở và đánh giá độ ổn định. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín, góp phần vào sự phát triển của hóa dượccông nghệ nano trong điều trị ung thư.

4.2. Hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, nghiên cứu cần tập trung vào việc mở rộng quy mô sản xuất và thử nghiệm lâm sàng trên người. Việc kết hợp tiểu phân nano ART với các phương pháp điều trị khác như hóa trị và xạ trị cũng là hướng đi tiềm năng để nâng cao hiệu quả điều trị ung thư.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Artemisinin (ATN) và các dẫn chất như artesunat (ART) là sản phẩm của quá trình chiết xuất và bán tổng hợp từ cây thanh hao hoa vàng Artemisia annua L. Ngoài tác dụng chống sốt rét, nhiều nghiên cứu gần đây còn cho thấy ART có tác dụng ức chế nhiều dòng tế bào ung thư [26]. Tuy nhiên, ART là dược chất không bền, độ ổn định phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, pH cũng như dung môi trong quá trình bào chế và bảo quản. Do đó, nhằm tăng độ ổn định cũng như sinh khả dụng, công nghệ nano có thể được áp dụng.

Các dạng bào chế chứa TP nano có khả năng giải phóng thuốc tại đích tác dụng với liều lượng và khoảng thời gian như dự kiến, đặc biệt với các tế bào khối u, kết quả làm tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu độc tính cho cơ thể người bệnh [58]. Bên cạnh liposome, TP nano sử dụng chất mang polyme cũng là một trong những dạng bào chế nano thu hút được khá nhiều nghiên cứu. Một trong những polyme tổng hợp có khả năng phân hủy sinh học được sử dụng khá phổ biến là acid poly (lactic-co-glycolic) (PLGA) do có khả năng kiểm soát và duy trì giải phóng dược chất, độc tính thấp, tương thích sinh học với nhiều mô và tế bào [116]. Ngoài ra, các polyme thân nước như chitosan (CS) hay PEG có thể được sử dụng nhằm thay đổi đặc tính bề mặt của các tiểu phân nano (viết tắt là TP nano) PLGA như tăng cường sự bám dính sinh học hoặc giúp làm giảm sự hoạt hóa bổ thể, giảm sự tương tác bắt giữ bởi các đại thực bào, do đó giúp kéo dài thời gian tuần hoàn của TP nano, tạo cơ hội phân phối thuốc đến các khối u đích và điều chỉnh tỷ lệ giải phóng dược chất [44].

Trên cơ sở đó, luận án đã được thực hiện với tiêu đề ―Nghiên cứu bào chế tiểu phân nano artesunat pha tiêm hướng điều trị ung thư” với các mục tiêu bao gồm: 1. Xây dựng được công thức và quy trình bào chế tiểu phân nano artesunat ở quy mô phòng thí nghiệm; 2. Xây dựng được công thức và quy trình bào chế bột đông khô pha tiêm chứa tiểu phân nano artesunat ở quy mô phòng thí nghiệm; 3. Đề xuất được tiêu chuẩn cơ sở và đánh giá độ ổn định của bột đông khô pha tiêm chứa tiểu phân nano artesunat; 4.

Đánh giá được tác dụng ức chế tế bào ung thư in vitro và in vivo của tiểu phân nano artesunat. Đại cƣơng về artesunat 1. Công thức - Công thức cấu tạo CH3 H H3C O O H O H O CH3 OCOCH2 CH2 COOH Hình 1. Công thức cấu tạo của ART - Tên khoa học: (3R, 5aS, 6R, 8aS, 9R, 10S, 12R, 12aR) - Decahydro - 3,6,9 - trimethyl - 3,12 - epoxy - 12H - pyrano (4,3 – j) - 1,2 - benzodioxepin - 10 - ol, hydrogen sucinat.

- Tên khác: Dihydroartemisinin-12-alpha-succinat; Succinyl dihydro- artemisinin; Quinghaosu reduced succinat este. - Công thức phân tử: C19H28O8 - Khối lượng phân tử: 384,4 g/mol [1]. Tính chất vật lý Bột kết tinh trắng mịn. Tan được trong nước (khoảng 56,2 mg/l ở 25oC), tan tốt trong dicloromethan (DCM), ethanol và aceton.

ART là một acid yếu có pKa bằng 4,6, có hệ số phân bố dầu/nước thay đổi theo các giá trị pH khác nhau, ngoài ra, ART có khả năng tan một phần trong nước ở pH=7,4 do logD7,4 nhỏ nên có thể thích hợp với dạng thuốc tiêm khi chuyển qua dạng muối (như dạng muối kiềm natri). Ở dạng thuốc tiêm, acid artesunic được dùng kết hợp với natri hydrocarbonat để tạo dạng muối natri artesunat ngay trước khi tiêm [1], [20]. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của artesunat 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm Là dẫn chất este của ATN, ART kém ổn định ở nhiệt độ cao và sự có mặt của ẩm.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ART kém ổn định khi tăng nhiệt độ; ví dụ trong 2 dung dịch natri clorid 0,9% (kl/tt) khi bảo quản ở 9oC, 23oC, 36,5oC thì thời gian ổn định của ART lần lượt là 130 giờ, 10,6 giờ và 1,6 giờ [24]. Độ ổn định của ART đạt được tối đa khi bảo quản thuốc ở 2-8oC [12]. Đồng thời, độ ổn định của ART bị ảnh hưởng mạnh khi có độ ẩm cao. Hàm lượng ART giảm nhanh trên 2%/năm khi bảo bảo quản nguyên liệu ART ở nhiệt độ 30-35oC và độ ẩm tương đối (gọi tắt là độ ẩm) 80-90% [6].

Quá trình phân hủy của thuốc được chứng tỏ có liên quan nhiều đến độ ẩm hơn, ví dụ khi bảo quản ở nhiệt độ 50oC và độ ẩm 60%, thuốc ít bị phân hủy hơn so với khi bảo quản ở nhiệt độ 40oC và độ ẩm 75% [12]. Khi nghiên cứu sự ổn định của ART trong môi trường huyết tương, nhiệt độ cao cũng làm ART kém ổn định. Ví dụ, khi bảo quản ở nhiệt độ 4oC, ART có thể ổn định đến 6 ngày so với 5 giờ ở nhiệt độ phòng (24oC), ở -25oC cho thấy không có sự phân hủy sau 8 tháng [24]. Thời gian bảo quản càng lâu càng dẫn đến sự phân hủy ART, ví dụ ở nhiệt độ 4oC, sau 2, 3, 6 tháng bảo quản thì hàm lượng dược chất lần lượt giảm đến 6-18%, 25-37% và 59-80%; ở nhiệt độ phòng, tỉ lệ giữa ART và dihydroartemisinin (DHA) càng giảm khi thời gian bảo quản càng kéo dài [102].

Do đó, bột khô là dạng thích hợp nhất để bảo quản như đối với công thức bào chế thuốc tiêm chứa ART để hạn chế sự không ổn định hoặc công thức chỉ được phối trộn với nước ngay trước khi sử dụng. Ngoài ra công thức cần được bào chế trong điều kiện kiểm soát độ ẩm và độ ổn định cần được kiểm tra trong quá trình sản xuất dưới điều kiện kiểm soát độ ẩm và bao gói trong các bao bì tránh ẩm [12]. Ảnh hưởng của pH và xúc tác acid-base nói chung Một số thuốc chịu sự phân hủy trong dung dịch khi cho thêm acid hay base. Phụ thuộc vào pKa, hầu hết các thuốc thường tồn tại ở dạng muối của acid hay base yếu.

Do đó, trong dung dịch nước, các phân tử thuốc sẽ phân ly một phần hay hoàn toàn. Mặc dù các hệ đệm thường được dùng trong các dung dịch dược phẩm để điều chỉnh pH của dung dịch nhưng một vài hệ sẽ xúc tác quá trình phân hủy. Các thuốc có nhóm este succinat trong cấu trúc phân tử như ART có thể bị thủy phân khi có mặt nước. Đặc biệt quá trình thủy phân sẽ được thúc đẩy bởi sự hiện diện nhiều hơn của nồng độ ion hydro hoặc hydroxyl hoặc bởi xúc tác acid-base nói chung của hệ đệm.

3 Nói chung, ART kém ổn định ở pH acid. ART thủy phân đáng kể khi pha loãng với dung dịch glucose 5% kl/tt với pH thấp khoảng bằng 5 [24]. Đồng thời, mặc dù tan được trong dung dịch kiềm tuy nhiên lại dễ thủy phân tạo DHA, ví dụ hàm lượng ART giảm còn 92-93% khi đông khô dung dịch ART có pH 9,1-9,5 [2]. Do vậy, các nghiên cứu chỉ ra rằng, giá trị pH để duy trì ổn định của ART nên nằm trong khoảng từ 7,5-8,5 như ở pH 8,2 khi đông khô dung dịch ART, hàm lượng ART vẫn duy trì bằng 98,4% gần như ban đầu [2], thuốc ổn định nhất tại đệm phosphat pH 8 trong điều kiện nhiệt độ 2-8oC và 25oC với hàm lượng còn lại sau 1 tuần lần lượt là 94,5 ± 0,2% và 94,6 ± 0,8% [12].

Ảnh hưởng của các dung môi khác nhau Các nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của các dung môi khan nước đến sự ổn định của ART như ethanol, dimethylsulfoxid (DMSO), PEG 400,… Việc sử dụng ethanol có thể giảm tốc độ phân hủy của ART như quá trình phân hủy chỉ xảy ra sau 3 tháng ở nhiệt độ phòng, tuy nhiên tạo nhiều sản phẩm khác nhau [71]. Đối với PEG 400, quá trình phân hủy xảy ra chỉ sau 1 tháng tuy nhiên DHA là chất phân hủy duy nhất, đồng thời là chất chống sốt rét khá hiệu quả. Do đó, PEG 400 là tá dược có thể đáng quan tâm do chỉ tạo mỗi DHA [71]. Nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của các hệ dung môi khác nhau đến sự phân hủy của ART trong quá trình bào chế thuốc tiêm đông khô ART.

Các dung môi được sử dụng trong khảo sát bao gồm dung môi số 1, nước cất, ethanol, DMSO, hoặc hỗn hợp các dung môi. Kết quả hỗn hợp dung môi số 1 và nước cất được lựa chọn để tiếp tục nghiên cứu vì có khả năng hòa tan các thành phần trong công thức và đảm bảo tránh sự phân hủy dược chất [2]. Các phương pháp định lượng artesunat - Phương pháp quang phổ UV-Vis: Với nguyên tắc dựa vào phản ứng thủy phân trong môi trường kiềm ở nhiệt độ 50  1 oC trong 60 phút tạo ra sản phẩm phân hủy có khả năng hấp thụ ánh sáng tại bước sóng 289  1 nm [1]. - Phương pháp quang phổ huỳnh quang: Với nguyên tắc dựa vào phản ứng tạo chất huỳnh quang màu nâu xanh với hỗn hợp acid acetic và acid sulfuric (tỉ lệ 2:1) ở nhiệt độ cao 100oC trong 5 phút.

Bước sóng kích thích là 303 nm và bước sóng phát xạ tương ứng của ART trong methanol là 609 nm [138]. 4 - Phương pháp acid – base: Với nguyên tắc dựa vào phản ứng acid – base với dung dịch NaOH 0,05 M, dùng 2 giọt phenolphthalein/ethanol làm chất chỉ thị [166]. - Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC): Với nguyên tắc sắc ký sử dụng hệ pha động bao gồm acetonitril và đệm phosphat pH 3, với cột sắc ký pha đảo C18, detector: UV 216 nm [156]. - Phương pháp sắc ký lỏng – khối phổ (LC-MS/MS): Với nguyên tắc định lượng ART và DHA trong huyết tương người dựa trên quá trình kết tủa protein bằng acetonitril, sử dụng ATN làm chất chuẩn nội, sau đó tiến hành phương pháp sắc ký lỏng qua cột C18 trước khi vào bộ phận khối phổ tứ cực chập ba [72].

Tác dụng ức chế tế bào ung thư 1. In vitro Artemisinin và các dẫn chất của nó (ATNs), trong đó bao gồm cả ART có tác dụng ức chế nhiều dòng tế bào ung thư như: Tế bào ung thư xương (dòng có tình trạng đột biến p53 khác nhau, HOS) [43]; Tế bào u não hình sao (U373MG) [124]; Tế bào ung thư thần kinh chưa trưởng thành (UKF-NB-3, UKF-NB-6, IMR-32) [114]; Tế bào ung thư sắc tố da (A375P, A375M, G361, LOX); Tế bào mô liên kết (HT-1080); Tế bào ung thư biểu mô cổ tử cung (Hela); Tế bào bị bất diệt/chuyển dạng bởi Human papillomavirus; Tế bào ung thư biểu mô màng trong dạ con (HEC- 1B); Tế bào ung thư tuyến tụy (BxPC3, MiaPaCa-2), Tế bào ung thư trực tràng (CLY, HT29) [43].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu bào chế tiểu phân nano Artesunat hướng điều trị ung thư" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc phát triển tiểu phân nano Artesunat, một loại thuốc có tiềm năng trong điều trị ung thư. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ quy trình bào chế mà còn chỉ ra những lợi ích của việc sử dụng công nghệ nano trong việc cải thiện hiệu quả điều trị và giảm tác dụng phụ cho bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức mà công nghệ nano có thể cách mạng hóa phương pháp điều trị ung thư, mở ra hướng đi mới cho các liệu pháp y tế hiện đại.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến công nghệ nano trong dược phẩm, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học nghiên cứu khả năng tạo hạt nano và sub micro của một số loại dược phẩm, nơi bạn sẽ khám phá khả năng tạo ra các hạt nano trong ngành dược. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo xác định đặc trưng tính chất tổ hợp polymer alginate chitosan mang hoạt chất ginsenoside rb1 và thuốc lovastatin sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng polymer trong việc mang thuốc. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về các nghiên cứu khác trong lĩnh vực dược phẩm qua tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo và đặc trưng tính chất của tổ hợp carrageenan-collagen từ vảy cá mang dược chất allopurinol. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các ứng dụng của công nghệ nano trong y học.