ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa, Tam thất (Panax notoginseng) (Burk. Chen, họ Nhân sâm (Araliaceae) đã được coi là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền với các công dụng hành ứ, cầm máu, tiêu thũng, dùng trong các trường hợp chấn thương, chảy máu, huyết ứ dẫn đến đau đớn, tiêu ung nhọt,… [4], [9]. Nhiều thành phần hóa học đã được phân lập và xác định cấu trúc hóa học từ Tam thất như các saponin, acid amin, polyacetylen, phytosterol, flavonoid, polysaccarid,… [9]. Hiện nay, các nghiên cứu đã xác định được thành phần có tác dụng trị liệu chính trong tam thất là các saponin nhóm triterpen.
Các saponin của tam thất là các chất đóng vai trò chính trong tác dụng sinh học của củ tam thất, có nhiều tác dụng quý như chống lại thiếu máu cục bộ mạch máu não, chống loạn nhịp tim, giãn mạch máu, cải thiện lưu lượng và tuần hoàn máu, điều hòa nồng độ hormon steroid. Trong đó, 5 loại saponin triterpen có hàm lượng cao trong tam thất là notoginsenosid R1 (7 - 10%), ginsenosid Rb1 (30 - 36%), Rg1 (20 - 40%), Rd (5 - 8,4%) và Re (3,9 - 6%) [50]. PNS có khả năng hòa tan tốt trong nước. Tuy nhiên, do kém ổn định, bị thủy phân trong môi trường acid dịch vị, khả năng thấm kém, khối lượng phân tử cao làm cho sinh khả dụng đường uống của PNS kém [54], [24].
Các saponin ginsenosid được phân loại vào nhóm III trong hệ thống phân loại sinh dược học BCS [27], [35]. Nhiều dạng bào chế khác nhau đã được nghiên cứu để cải thiện sinh khả dụng của PNS, như pellet kết dính sinh học [36], viên nén giải phóng kéo dài theo cơ chế bơm thẩm thấu [15], viên nén bao tan trong ruột [76], viên nén kết dính sinh học [19],… Pellet đã được ứng dụng với nhiều dược chất khác nhau, có ưu điểm là dễ phân tán đều khắp dạ dày, kích thước nhỏ dễ đi qua môn vị nên xuống nhanh vị trí hấp thu tối ưu ở ruột non, đồng thời giảm sự sai khác về sinh khả dụng giữa các cá thể. PNS kém bền trong môi trường acid dịch vị, do đó việc lựa chọn màng bao thích hợp sẽ giúp kiểm soát giải phóng dược chất tại dạ dày và ruột, góp phần cải thiện độ ổn định và sinh khả dụng của thuốc [54]. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu bào chế pellet saponin tam thất” với mục tiêu: - Xây dựng được công thức và quy trình bào chế pellet cao tam thất bằng phương pháp đùn-tạo cầu.
- Bước đầu xây dựng được công thức màng bao tan trong ruột và đánh giá một số đặc tính của pellet đã bào chế. 1 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tam thất và các thành phần hóa học trong tam thất 1. Tên khoa học Tên khoa học: Panax notoginseng (Burkill) F.
Họ: Nhân sâm (Araliaceae). Hình ảnh cây Panax notoginseng (Burk. Thành phần hóa học Cho đến nay, gần 100 hợp chất đã được phát hiện trong tam thất, bao gồm ginsenoside, polysaccharid, acid amin, dầu dễ bay hơi, flavonoid và polyacetylen [38], [80]. Saponin được coi là thành phần chính trong Panax notoginseng [80].
Thành phần saponin chính và được nghiên cứu nhiều nhất của tam thất là ginsenoside toàn phần, chủ yếu thuộc loại dammarane (bao gồm loại protopanaxadiol và loại protopanaxatriol) và loại ocotillol, nhưng không chứa bất cứ saponin nào có nhóm acid oleanolic (nhóm Ro), đây là một khác biệt lớn so với cây nhân sâm (Panax ginseng) [38]. Mỗi bộ phận khác nhau của tam thất sẽ chứa thành phần và tỉ lệ saponin khác nhau, ginsenosid Rb1 có nhiều trong tất cả các bộ phận của cây, trong khi Rg1 giàu trong thân và rễ và Rg3 có hàm lượng lớn trong nụ hoa tam thất. Cấu trúc hóa học của nhóm (a) protopanaxadiol và (b) protopanaxatriol. Tóm tắt thành phần hóa học trong cây Panax notoginseng (Burk.
Chen 2 Bộ phận Tài liệu STT Thành phần Hàm lượng phân bố tham khảo 1 Ginsenosid Rg1 20 – 40% Rễ, thân, lá [38], [75] 2 Ginsenosid Rb1 30 – 36% Rễ, thân, lá [38], [75] 3 Notoginsenosid R1 7 – 10% Rễ, thân, lá [75], [49] 4 Ginsenosid Rd 5 – 8,4% Rễ, thân, lá [38], [75] 5 Ginsenosid Re 3,9 – 6% Rễ, thân, lá [38], [75] 6 Saccarid < 1% Rễ chính [17], [50] 7 Acid amin < 1% Rễ chính [66] 8 Notoginsenosid Rt, R2, R3, R4 và R6 <1% Rễ chính [13] Dầu dễ bay hơi (aldehyd, dị vòng, 0,911 ± 9 sesquiterpenoid, acid béo, hợp chất Rễ chính [83], [13] 0,062% ester acid béo và alkan hydrocacbon) Polyacetylen (panaxytriol, panaxynol, panaxydol, acid b-sophoroside notoginsenic, 10-hydroxydeca-4,6- [86], [75], 10 0,21% Rễ chính diynoic acid 10-O-β-D- [60], [40] glucopyranosyl (1 2)-β-D- glucopyranosid) 11 Dencichin < 1% Rễ chính [26], [53] Flavonoid (quercetin, quercetin-3-O 12 < 1% Rễ chính [82], [81] sophorosid) Ngoài các hợp chất được liệt kê ở trên, còn có các thành phần khác được phân lập từ tam thất, bao gồm icarisid B6, guanosin hydrat, acid béo, các nguyên tố vô cơ và muối khoáng [49]. Năm loại saponin chính trong tam thất là notoginsenosid R1, ginsenosid Rb1, Rg1, Rd và Re chiếm tới khoảng 90% tổng số saponin trong tam thất được nghiên cứu cùng ứng dụng trong thí nghiệm về dược lý. Trong số đó, ba saponin lần lượt là ginsenosid Rb1, ginsenosid Rg1 và notoginsenosid R1 là thành phần có tác dụng chính trong tam thất và được chọn làm hợp chất tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng tam thất [50]. Cấu trúc hóa học của notoginsenosides R1 (a) và ginsenosid Rb1 (b).
Cấu trúc hóa học của ginsenoside Rg1 (a) và ginsenosid Rd (b). Cấu trúc hóa học của ginsenoside Re. Hàm lượng saponin toàn phần trong tam thất được ước tính là khoảng 15%, và phụ thuộc vào loài, tuổi, bộ phận của cây, cách bảo quản, phương pháp thu hoạch, thời vụ thu hoạch và phương pháp chiết xuất [38], [13], [29]. Theo Dược điển Việt Nam V, hàm lượng notoginsenosid R1 không ít hơn 0,4% và tổng hàm lượng ba saponin notoginsenosid R1, ginsenosid Rb1 và Rg1 không ít hơn 5% trong mẫu dược liệu rễ củ khô kiệt.
Tác dụng sinh học của saponin tam thất PNS đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc bảo vệ tế bào cơ tim, chống xơ vữa động mạch. Các ginsenosid là các saponin triterpenoid có cấu trúc tương tự như các hormon steroid. Do vậy, các saponin này có thể tác dụng đối với quá trình sinh tinh và chức năng tình dục bằng cách kích hoạt các receptor steroid [50], [62]. PNS có thể làm giảm tổn thương do thiếu máu cục bộ nhờ tác dụng chống viêm và tác dụng bảo vệ các cơ quan, làm giảm giải phóng các yếu tố gây viêm và cải thiện lưu lượng máu của các cơ quan [50], [62].
PNS làm tăng độ nhạy insulin và cải thiện cân bằng nội môi glucose ở chuột KK- Ay, điều này có ý nghĩa lâm sàng đối với việc kiểm soát bệnh đái tháo đường. Ngoài ra, PNS toàn phần có thể ức chế quá trình góp phần vào tác dụng bảo vệ thần kinh [50], [62]. Gần đây, các nghiên cứu về tác dụng chống khối u của tam thất cho thấy tam thất có tác dụng chống ung thư đối với bệnh ung thư ruột kết, ung thư gan, ung thư phổi, u lympho, ung thư tuyến tụy, ung thư vú [48]. Một số nghiên cứu về sinh khả dụng của saponin trong tam thất Các saponin ginsenosid được phân loại vào nhóm III trong hệ thống phân loại sinh dược học BCS do có độ hòa tan tốt và tính thấm thấp [33], [43], [10], [55].
PNS có khả năng hòa tan trong nước tốt [37]. Khả năng hòa tan trong nước của ginsenosid được quyết định bởi sự có mặt của nhóm chức kỵ nước bao gồm triterpen hoặc steroid aglycon và một nhóm chức ưa nước bao gồm các đường ở chuỗi bên, do đó, độ hòa tan bị ảnh hưởng đáng kể bởi số lượng các đường trong các cấu trúc phân tử [51]. Các nghiên cứu dược động học cho thấy rằng các saponin loại dammarane có khả dụng sinh học thường dưới 6% [23]. Tính chất kém ổn định, bị thủy phân trong môi trường acid dịch vị, khả năng thấm kém, khối lượng phân tử cao làm cho sinh khả dụng của PNS kém [54], [24], [44].
Hệ số thấm Papp của các saponin R1, Rb1, Rg1, Rd và Re khoảng từ 1 × 10−7 cm·s−1 tới 1 × 10−6 cm·s−1 (nhỏ hơn 10−5 cm·s−1) [46]. Sinh khả dụng đường uống của ginsenosid Rb1 và Rd được tìm thấy là 0,1–0,2%, trong khi ginsenosid Re, Rg1 và notoginsenosid R1 từ 0,2–0,6% [61]. Do tính thấm qua màng thấp và sinh khả dụng đường uống kém, một số hướng nghiên cứu đã được triển khai để cải thiện sinh khả dụng đường uống của các ginsenosid và các saponin trong tam thất. Một số hướng nghiên cứu cải thiện sinh khả dụng đường uống của các ginsenosid và các saponin tam thất 5 Năm Dạng bào chế Kết quả TLTK Phức hợp của 1993 ginsenosid với Cải thiện tính thấm qua màng của ginsenosid [78] phytosome Proliposome của các ginsenosid Các proliposom làm tăng đáng kể Cmax, tăng tính thấm, sử dụng Natri tăng khả năng hấp thu và giảm thời gian thải trừ ở 2016 [25] deoxycholat chuột.
Hệ phân phối trên có thể được áp dụng chọn lọc dưới dạng muối để phân phối saponin triterpenoid qua đường uống. mật Cải thiện đáng kể sinh khả dụng đường uống của PNS, các thông số AUC đối với R1, Rg1 và Rb1 khi dùng viên kết dính sinh học đã tăng lên đáng kể so với viên nén thông thường (P <0,05), và sinh khả dụng tương Viên kết dính 2011 đối sau khi uống viên kết dính sinh học là 204,53% đối [19] sinh học với R1, 152,73% đối với Rg1 và 150,50% đối với Rb1. Chitosan làm giảm sự thoái hóa của Rb1 và giúp Rb1 được hấp thu tại ruột. Vi nhũ tương của ginsenosid Rg1 có thể làm tăng đáng kể sự hấp thu của ginsenosid Rg1 ở ruột sau khi cho chuột dùng qua đường uống.
Sự tăng hấp thu có thể liên quan đến khả năng hòa tan và tốc độ hòa tan được 2009 Vi nhũ tương [31] cải thiện của ginsenosid Rg1 và tăng cường tính thấm qua màng của Rg1. Vi nhũ tương cũng đã làm tăng sinh khả dụng tương đối của ginsenosid Rg1, từ 268% đến 1270% so với dung dịch ginsenosid đối chứng. Sinh khả dụng của pellet bao tan ở ruột cao hơn so với viên nang thông thường. Sinh khả dụng của Pellet bao tan ở 2012 notoginsenosid R1, ginsenosid Rb1 và ginsenosid Rg1 [76] ruột trong pellet bao tan ở ruột so với viên nang lần lượt là 520,56%; 367,70%; 251,66% Các nghiên cứu về các dạng bào chế cho saponin tam thất nêu trên đã giúp tăng sinh khả dụng của các saponin tam thất so với các dạng bào chế thông thường như viên nén, 6 viên nang.