Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Đô thị và phân loại đô thị a. Khái niệm đô thị Quần cư là hình thức thể hiện cụ thể việc phân bố dân cư trên bề mặt trái đất. Nó được coi như một tập hợp tất các điểm dân cư (đô thị, làng, bản…) tồn tại trên một lãnh thổ nhất định.
Sự xuất hiện và phát triển hệ thống các điểm dân cư liên quan mật thiết với các nhân tố kinh tế - xã hội của từng hình thái kinh tế xã hội cụ thể, với các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, tập quán cư trú của các dân tộc. Có hai loại hình quần cư chủ yếu nông thôn và đô thị. Việc phân loại này gắn liền với sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, mà trước hết là tách công nghiệp khỏi nông nghiệp dẫn tới tách thành thị khỏi nông thôn. Các dấu hiệu đặc trưng cơ bản là chức năng trong nền kinh tế quốc dân, quy mô dân số, mức độ tập trung dân cư… Quần cư nông thôn là tập hợp các điểm dân cư nông thôn gắn với chức năng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, quy mô dân số ít, mức độ tập trung không cao.
Quần cư nông thôn có một vài đặc điểm chủ yếu sau: - Các điểm dân cư nông thôn xuất hiện sớm và mang tính phân tán trong không gian liên quan chặt chẽ tới chức năng sản xuất nông nghiệp. Hoạt động nông nghiệp xuất hiện rất sớm cách đây 1 vạn năm. Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng của nông nghiệp và trải rộng theo không gian. Vì thế hoạt động nông nghiệp và các đặc điểm dân cư nông thôn thể hiện tính chất phân tán đó.
Biểu hiện của tính phân tán này là quy mô các điểm dân cư thường nhỏ, số dân nói chung ít, mật độ dân số thấp[21]… - Các điểm dân cư nông thôn gắn với chức năng chính là sản xuất nông nghiệp. Ở các điểm dân cư này, nơi cư trú thông thường cũng là nơi sản xuất. Tùy theo các điều kiện cụ thể mà chức năng của các điểm dân cư nông thôn có thể là làng thuần nông và làng hỗn hợp[21]. - Các điểm dân cư nông thôn ngày nay có nhiều thay đổi do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa.
Về chức năng, bên cạnh hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, các 6 điểm dân cư nông thôn còn có các chức năng khác như công nghiệp (chủ yếu là công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp), dịch vụ (cho sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội). Kết quả là tỉ lệ dân số không làm nông nghiệp ngày càng tăng. Quá trình ĐTH cũng làm cho cấu trúc các điểm dân cư nông thôn thay đổi, trở lên gần giống cấu trúc các điểm dân cư đô thị. Quần cư thành thị là tập hợp các điểm dân cư đô thị gắn với chức năng sản xuất phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ), quy mô dân số đông, mức độ tập trung dân số cao và có kiểu kiến trúc quy hoạch đặc biệt, hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh và đồng bộ.
Các điểm dân cư đô thị có những đặc điểm riêng. Chẳng hạn như ở nước ta có một số đặc điểm cơ bản sau đây: - Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. - Quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km2 (ở vùng núi có thể thấp hơn). - Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp phải chiếm trên 60% dân số hoạt động.
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, các công trình công cộng phục vụ dân cư phát triển [21]. Có nhiều quan niệm khác nhau về đô thị ở Việt Nam, Nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ nêu rõ, đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện về phân cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, về trình độ phát triển. Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ. Theo Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn.
Phân loại đô thị Đô thị của Việt Nam phân theo đơn vị hành chính và phân loại đô thị Việt Nam. Đối với phân loại theo đơn vị hành chính, đơn vị hành chính nước ta được phân chia theo ba cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp tỉnh); huyện, thị xã, quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện) và xã, phường, thị trấn (cấp xã). Đối với phân loại đô thị Việt Nam: Để thuận lợi cho công tác quy hoạch và quản lý đầu tư xây dựng, hệ thống đô thị ở Việt Nam hiện nay được phân thành 6 loại với 5 tiêu chí theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Sáu loại đô thị bao gồm: Đô thị đặc biệt, đô thị loại 1, đô thị loại 2, loại 3, loại 4 và 5.
Mỗi đô thị có vị trí, chức năng, vai trò khác nhau. Đô thị đặc biệt là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của cả nước. Hoặc, là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của cả nước. Đô thị loại I là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia (cấp vùng/tỉnh) về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước.
Đô thị loại II là trung tâm tổng hợp (chuyên ngành) cấp vùng về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của một vùng liên tỉnh. Đô thị loại III là trung tâm hành chính cấp tỉnh, trung tâm tổng hợp về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh, vùng liên tỉnh. Một số tiêu chí phân loại đô thị Việt Nam [27] Loại đô thị Đơn vị Tiêu chí 1 tính Đặc biệt 2 3 4 5 TW Tỉnh 1000 ≥ 6.000 ≥ 500 ≥ 200 ≥ 100 Từ > 4 đến < Dân số đô thị người ≥ 4.200 Mật độ dân số đô thị người/km2 20.000 ≥ 75 ≥ 75 ≥ 70 ≥ 70 ≥ 65 Từ 55% đến Lao động phi nông nghiệp % ≥ 95 ≥ 90 ≥ 85 ≥ 80 ≥ 80 65% Thu nhập/người so với cả nước lần ≥3 ≥ 2,1 ≥ 1,75 ≥ 1,4 ≥ 1,05 ≥ 0,7 Tỷ lệ hộ nghèo % < 5.0 ≤ 5,5 ≤ 6,0 ≤ 6,5 ≤ 7,0 ≤ 7,5 Công trình thương mại dịch vụ công trình ≥ 20 ≥14 ≥ 10 ≥7 ≥4 ≥2 Tỷ lệ tuyến phố văn minh đô thị % ≥ 60 ≥ 60 ≥ 50 ≥ 50 ≥ 40 ≥ 30 Đất cây xanh công cộng khu vực nội thành m²/người ≥7 ≥6 ≥6 ≥5 ≥5 ≥4 Tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch, hợp vệ sinh % 100 100 100 100 ≥ 95 ≥ 95 Tỷ lệ phủ sóng TTDĐ trên dân số % 100 100 100 ≥ 95 ≥ 95 ≥ 90 Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom % 100 100 ≥ 90 ≥ 90 ≥ 80 ≥ 70 Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý % ≥ 90 ≥ 90 ≥ 80 ≥ 80 ≥ 70 ≥ 65 Vùng liên Vùng Vùng liên Đầu mối giao thông Cấp Quốc gia Quốc gia Huyện tỉnh tỉnh huyện 9 Đô thị loại IV là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành cấp tỉnh/huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của huyện, vùng liên huyện. Đô thị loại V là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, đầu mối giao thông có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của huyện.
Nghị quyết đã làm rõ các tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại đô thị về (1) Vị trí, chức năng, cơ cấu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội (2) Quy mô dân số (3) Mật độ dân số (4) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (5) Trình độ phát triển kết cấu hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan [27]. Với các tiêu chí trên, Hải Phòng hiện là đô thị loại 1, trực thuộc TW Các chỉ tiêu này có thể thay đổi trong áp dụng các tiêu chuẩn đó với một số đô thị có tính chất đặc thù như đô thị là trung tâm du lịch, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo đô thị ở miền núi, vùng cao, có đường biên giới quốc gia, hải đảo. Các khái niệm khác - Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên 6 tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và nội thị trấn. Đối với thành phố trực thuộc trung ương dân số đô thị bao gồm dân số khu vực nội thành dân số nội thị xã trực thuộc và dân số thị trấn.
Tương quan giữa quy mô dân số thành thị với tổng dân số chung trên một đơn vị lãnh thổ là tỷ lệ dân thành thị. Tỷ lệ dân thành thị là một trong số chỉ tiêu phản ánh trình độ ĐTH của một lãnh thổ.