Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 So lược về cây đậu phụng 1.1 Nguồn gốc và phân loại Cây đậu phụng có tên khoa học là Arachis hypogaea L. Theo Krapovikat (1986), “Arachis hypogaea có nguồn gốc từ Bolivia tại các vùng đồi thấp và chân núi của day Anđơ”. Cho tới nay giả thiết của Krapovikat vẫn là giả thiết có cơ sở khoa học hơn cả. Người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha phát hiện cây đậu phụng ở các thuộc địa Nam và Trung Mỹ, từ đó cây đậu phụng được lan truyền trên toàn thế giới bởi các thương nhân châu Âu.
Vào thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha đã mang đậu phụng từ Brazil đến Tây châu Phi và sau đó là Tây Nam Ấn Độ. Cây đậu phụng đã được giới thiệu đến Trung Quốc và các nước ở Tây Thái Bình Dương như Indonesia, Madagascar do thương nhân người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 17 và một loạt các nhà truyền giáo người Mỹ trong thế kỷ 19, sau đó lan rộng ra khắp châu Á (Hồ Đình Hải, 2014). Theo Gibbons và ctv (1977) đậu phụng được phân thành 3 nhóm: Nhóm Spanish: Cây mọc thắng đứng, lóng ngắn, ít nghiêng ngả, trổ hoa nhiều và liên tiếp trên cành và thân chính. Hạt nhỏ, P100 hạt 35 — 40 g, tỷ lệ nhân 80%, mỗi qua nhiều nhất 2 hạt, một ít có 3 hạt.
Quả tập trung quanh gốc. Chịu hạn tốt, cần cung cấp phân bón vừa phải. Kháng bệnh, hàm lượng dầu cao hơn những nhóm khác. Chín sớm, thời gian sinh trưởng 85 — 110 ngày, miên trạng ngắn.
Chế biến kẹo, đóng hộp, bơ, ép dâu. Việt Nam có giông đậu Tứ Qui, dau Nu, đậu Coc. Nhóm Runner: Thân bò màu xanh sam, phân cành xen kẽ, nhiều cành ngang rat đài, mọc cách, thân chính đài tương đương với cành, thân chính ít hoa. Quả to, mọc xa gốc khoảng 40 cm, khó thu hoạch hết các quả.
Hạt lớn, P100 hạt 55 — 70 g, 2 — 3 hạt/quả, năng suất cao hơn nhóm Spanish. Thời gian sinh trưởng trên 150 ngày, miên trạng dài. 3 Là cây phủ đất, chống xói mòn, hạn chế cỏ dại. Trong 4 nhóm đậu phụng, nhóm Runner được tiêu thụ tốt nhất.
Chúng có vi ngon nên được dùng làm bơ. Nhóm Virginia: Thân màu xanh, phân cành xen kẽ, nhiều cành gần như nửa bò, nửa thang đứng, cao 45 — 60 cm, cành dài 70 — 75 cm, không có hoa trên than chính. Hạt lớn, P100 hạt 55 — 70 g, 2 — 3 hạt/quả. Thời gian sinh trưởng 150 ngày, miền Bắc 160 — 170 ngày, miên trạng dài.
Năng suất cao, ít bị bệnh đốm là, ít kháng hạn, cần tưới, cung cấp phân bón, lượng Canxi cao để giảm hạt lép. Nhóm này được dùng phổ biến trong ché biên. Nhóm Valencia: Thân đứng, màu tím nhạt, cao 1 — 1,2 m, mọc 3 — 4 cảnh, phan cảnh liên tục, tán lá to, thân chính thường dài hơn cành, cành mọc xa gốc khoảng 75 cm. Hạt nhỏ, P100 hạt 40 — 50 g.
Năng suất kha, qua nhỏ, có 3 — 5 hat/qua hay hơn. Thời gian sinh trưởng 85 — 110 ngày, miên trạng ngắn. Nhóm đậu ngọt, dùng dé ăn tươi, chiên hay luộc.2 Đặc điểm thực vật học Theo Phan Gia Tân (2005) cây đậu phụng có: Rễ: Gồm rễ cọc đâm sâu xuống đất bao quanh bởi một hệ thống rễ con và rễ phụ dày đặc phân bố chủ yếu ở lớp đất mặt từ 5 — 35 cm (60 — 80% trọng lượng). Rễ phát triên rât nhanh ở thời kỳ đâu rôi chậm dân vào các kỳ cuôi.
Thân: Đậu phụng thuộc dạng thân thảo. Khi còn non thân hình tròn nhưng khi già có hình góc cạnh, bên trong hơi xốp rỗng. Thân đậu phụng cau tạo bởi 15 — 25 đốt, khi cây có hoa thì tăng trưởng nhanh và đến khi thu hoạch thì cây tăng trưởng chậm lại. Chiều cao cây của các giống đậu phụng trồng ở Việt Nam là 30 — 75 cm, thích hợp trong sản xuất: 30 — 40 em, thân quá cao không thích hợp canh tác.
Cành: Khả năng đâm cảnh của đậu phụng là rất lớn, nhất là những giống thuộc loài phụ Hypogaea (có thé có 4 — 7 cấp cành), loài phụ Fastigiata thường chi có 2 cấp cành với tổng số cảnh 6 — 12. Các giống đậu phụng được trồng ở nước ta chủ yếu là các giống thuộc nhóm Spanish (loài phụ Fastigiata). Lá: Thuộc lá kép lông chim, mọc cách, mỗi lá cỏ 4 lá chét, có khi có 3 — 6 lá chét. Một lá thật gồm 3 phần chính: phiến lá (4 lá chét hay tử diệp), cuống lá và 2 lá kèm.
Ở 4 mỗi cuống lá chét có mô chứa nước, làm cho lá hoạt động đóng ban đêm, mở ban ngày gọi là hiện tượng lá ngủ. Có lá kèm ở nách cuống lá, hình mũi mác. Một cây có 50 — 80 lá, lá 3, 4, 5 và 6 có hoạt động sinh lý mạnh ké từ đỉnh sinh trưởng xuống dùng những lá này dé phân tích chuẩn đoán dinh dưỡng của cây. Hoa: Hoa lưỡng tính, màu vàng, mọc thành chùm, mỗi chùm từ 2 — 7 hoặc 12 — 15 hoa mọc ở nách lá, các hoa trên chùm phát triển không đều.
Hoa đậu phụng 99% là tự thụ phấn, nở vào sáng sớm từ 5 — 10 giờ. Quả: Dạng hình kén, dài 1 — 8 cm, rộng 0,5 — 2 cm, một đầu dính vào thư đài khi khô thành cuống quả, đầu kia có dạng cong gọi là mỏ quả, ở giữa quả có co thắt lại gọi là eo quả. Vỏ có thé có gân hoặc không có gân tùy giống. Hạt: Có nhiều hình dạng khác nhau: Bầu dục, tam giác, tròn.
Phần tiếp xúc với hạt bên cạnh thường thăng. Hạt có vỏ lụa bao bọc ở ngoài, màu sắc của vỏ lụa thay đôi tùy giống: hồng nhạt, trắng, đỏ tím. Có vân hoặc không và ít bị chi phối với điều kiện ngoại cảnh. Trong 1 quả có từ 1 — 6 hạt, thường là 2 hạt.
Giống và điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến số hạt trong một quả.3 Nhu cầu sinh thái Dat dai: Dat trồng đậu phụng phải tơi xốp, có thành phan cơ giới nhẹ, thoát nước tốt, các loại dat thích hợp trồng đậu phụng là đất pha cát, đất đỏ bazan, dat phù sa. Phải tăng cường các biện pháp cơ giới dé cày bừa cho đất tơi xốp. Cây đậu phụng thích hợp pH gan trung tinh (5,7 — 6,2). Nhiệt độ: Cây đậu phụng có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu nóng am và đồi dao ánh sáng.
Tổng tích ôn cần thiết để hoàn thành một chu kỳ sinh trưởng biến động từ 2.800°C, nhiệt độ không khí thích hợp là 27 — 30°C, nhiệt độ đất thích hợp là 30 — 34°C. Ở từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau, cây cần lượng nhiệt khác nhau: Thời kỳ ra hoa, tạo quả: biên độ nhiệt ngày và đêm khoảng 6°C, thời kỳ quả chín: biên độ nhiệt ngày đêm khoảng 8 — 10°C. Lượng mưa: Lượng mưa thích hợp dé trồng đậu phụng khoảng 500 — 1250 mm và phân bé đều mùa trồng. Nhu cầu nước thay đôi tùy giống và theo từng thời kỳ sinh trưởng, đặc biệt cây cần nhiều nhất trong giai đoạn ra hoa kết quả.
Độ ẩm thích hợp cho đậu phụng phát triển là 75 — 80%. Ánh sáng: Đậu phụng là cây trung tính, phản ứng rất yêu với ánh sáng. Số giờ nắng khoảng 200 giờ/tháng thuận lợi cho hoa ra nhiều và tập trung. Gió: Gió nhiều làm bốc hơi nước mạnh nên phải tưới nhiều (nhất là vụ Đông Xuân).
Gió dé gây xâm nhiễm sâu bệnh vì gió mang các bao tử nam, hạt cỏ dai và sâu hại vào dat trông. Gió nhẹ có lợi vì gió dua CO¿ vào ruộng đậu phụng. Đôi với các giông đậu phụng than cao, gió to sẽ gây đô ngã, làm mat năng suất.4 Yêu cầu về dinh dưỡng Đạm: Đậu phụng có nhu cầu cao về đạm, nhờ hệ thống nốt san ở bộ rễ ma cây được cung cấp một lượng đạm đáng kể. Tuy nhiên, nốt san của cây chỉ hình thành sau khi cây mọc khoảng một tuần nên trong giai đoạn đầu của cây, đậu phụng cần được cung cấp đạm.
Trên các vùng đất nghèo dinh dưỡng nếu không bón đạm thì hệ vi sinh vật cộng sinh nốt san phát triển kém, dẫn đến năng suất kém (Đỗ Thanh Tâm, 2013). Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhạt, ra hoa ít, hoa quả non bị rụng. Thừa đạm, cành lá phát triển rườm rà, kéo dài thời gian sinh trưởng, ra hoa chậm, quả to song hạt không mây hoặc lép nhiều. Tùy theo giống, đất đai, thời vụ và phương thức gieo trồng.
Bình quân 1 ha đậu phụng cần bón thêm từ 50 — 80 kg phân đạm urê (Nguyễn Mạnh Chinh, 2007). Lân: Đối với cây đậu phụng, lân là yếu tổ dinh dưỡng cần cung cấp nhiều hon đạm. Lân có tác dụng xúc tiễn sự hình thành phát triển của bộ rễ, hình thành nốt san và các cơ quan sinh san: Hoa, quả, hạt, giảm rụng nu, rụng hoa, tăng tỷ lệ hat chắc. Tùy theo giống, đất đai, thời vụ và phương thức gieo trồng.
Bình quân 1 ha đậu phụng cần bón thêm từ 250 — 500 kg phân lân super (Ngô Thế Dân và ctv, 1999). Đậu phụng khi thiếu lân cây can cỗi sinh trưởng kém, lá non vàng nhạt, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nốt san, hoa rụng nhiều, quả ít, quả lép nhiều, năng suất và phẩm chất đậu phụng đều giảm (Phan Gia Tân, 2005). Thời kỳ cây con hàm lượng lân trong cây không cao nhưng rat cần thiết dé vi sinh vật cộng sinh phát triển hình thành nốt san. Do vậy lân cần được bón sớm (Đường Hồng Dat, 2007).
Kali: Đóng vai trò quan trọng trong việc quang hợp và sự phát triển quả của đậu phụng. Nó giúp tăng số hạt, tăng tỉ lệ hạt chắc, tăng năng suất và hàm lượng dau, protein trong hạt. Hàm lượng kali trong lá cao nhất ở thời kì ngay trước khi ra hoa, sau đó giảm dần ở thời kì hình thành quả (Đỗ Thanh Tâm, 2013). Đậu phụng hấp thu kali tương đối sớm và có tới 60 — 70% nhu cầu kali của cây được hấp thụ trong thời kì sinh trưởng sinh thực, đến thời kì chín, nhu cầu kali không đáng kể.
Khi hàm lượng K20 trong cây là 0,75% thì cây xuất hiện triệu chứng thiếu kali (Nguyễn Thị Hiền và ctv, 2001). Đậu phụng thiếu kali thân chuyên thành màu đỏ sam và lá chuyển màu vàng nhạt. Canxi: Là yếu tô dinh dưỡng mà cây đậu phụng cần nhiều hơn cả lân. Ngoài việc là yếu tố đinh dưỡng thì Ca còn giúp làm tăng pH, tạo môi trường thích hợp cho vi khuẩn có định đạm và là chất dinh dung cần thiết cho quá trình tạo quả và hạt.
Đặc biệt Ca giúp chuyền hoá N trong hạt.