Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây bí đao 1.1 Nguồn gốc Bí đao có tên khoa học là Benincasa hispida, thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), có nguồn gốc Đông Nam Á, được trồng phô biến ở các nước thuộc khu vực cận nhiệt đới. Bí đao được biết đến như là một loài thực phẩm bổ dưỡng chứa nhiều vitamin thường xuất hiện trong bữa cơm của người Việt. Ngoài ra, bí đao còn là một vị thuốc dân gian dùng dé chữa các bệnh như: béo phì, sốt, say nắng (Thái Hà và Dang Mai, 2011).2 Đặc điểm thực vật hoc của cây bí dao ở giai đoạn cây con 1.1 Rễ Rễ bí đao là rễ chùm có rễ cái phát triển mạnh, hệ thống rễ chùm (rễ sợi) của bí đao phát triển mạnh theo sự phát triển của thân. Trên mỗi đốt thân nêu gặp đất và độ am thì rễ bất định phát triển rất mạnh và như vậy sẽ tăng khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng.2 Thân Thân bí đao thuộc thân thảo hàng năm, có khả năng leo bò rất lớn, thân tròn hoặc không rõ cạnh, thân có màu xanh, trên thân phủ lớp lông cứng và dày.3 Lá Lá mọc cách, có màu xanh thẫm, dày, phủ lông cứng, lá giáp, lá lớn có dạng chân vịt, 5 cạnh.
^ À ed en ° 3 2 ^ r 2, ee A 1.4 Yêu câu điêu kiện ngoại cảnh của cay bí dao ở giai đoạn cay con Nhiệt độ: Là cây ưa khí hậu âm áp nhưng có khả năng chịu nóng, chịu rét kém. Cây con sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 17 - 22°C. Giới hạn nhiệt độ cho sinh trưởng là 39 - 40°C và 9 - 10°C. Độ âm: Hệ rễ phân bố ở tầng đất mặt, khối lượng thân lá lớn nên yêu cầu độ 4m cao nhưng không chịu ngập úng.
Thời kỳ cây con cần yêu cầu độ am đất 65 — 70%. Ánh sáng: Bí đao là cây ưa ánh sáng ngày ngắn. Nhìn chung, cây con sinh trưởng tốt trong điều kiện 10 — 12 giờ chiếu sáng. Đất đai: Bí đao phải có tầng canh tác dày, tơi xOp.
Nén chon dat thit nhe, dat cat pha dé gieo trồng, bí đao man cảm với đất mặn. Giai đoạn vườn ươm sử dung giá thé xơ đừa làm bầu cho độ thoáng khí là tốt nhất. pH: pH thích hợp cho cây con phát triển là 6,5 — 7.2 Sự nảy mầm của hạt giống 1.1 Khái niệm Theo Lê Quang Hưng (2007), sự nảy mầm của hạt là sự mọc mầm và phát triển của cây con đến giai đoạn đạt hình thái cấu trúc cần thiết, đủ sức phát triển mạnh hon thành cây hoàn chỉnh dưới điều kiện đất đai thích hợp. Sự nảy mầm của hạt có thể xem là bắt đầu của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, hạt đang ngủ nghỉ chuyên sang trạng thái nay mầm là cả một quá trình biến đổi sâu sắc về sinh lý và sinh hóa xảy ra trong hạt (Hoàng Minh Tắn và ctv, 2006).
Sự nảy mầm của hạt giống trong điều kiện phòng thí nghiệm là giai đoạn mà cây mầm xuất hiện và phát triển các bộ phận chính của nó và có thé hoặc không thé phát triển thành cây bình thường dù được gieo trồng trong các điều kiện thuận lợi ở ngoài đồng ruộng (Bộ NN&PPNT, 2003).2 Cơ chế nảy mầm của hạt giống Sự nảy mầm bình thường của hạt bắt đầu bằng sự hút nước và kết thúc với sự mọc dài một trục phôi gọi là rễ mầm. Các diễn tiến này là sự hydrate hóa protein, thay đổi cấu trúc của màng tế bào, tăng hô hấp, tổng hợp đại phân tử và kéo đài tế bào (Bewley và Black, 1994). Hạt khi hội đủ điều kiện nảy mầm nhưng không nảy mầm gọi là hạt bất động (quiescent). Những hạt bất động chứa các tế bào dự trữ, thường có độ am hat thap (5 - 15%), hoạt động biến dưỡng bị ngừng lại, có thé kéo dài nhiều năm và có thé moc mam lại do sự hydrate làm thúc day biến dưỡng, thường với tác nhân của nhiệt độ thích hợp và sự hiện diện của oxy.
Tiến trình nảy mầm của hạt xảy ra nhưng có thể không tạo nên rễ mầm, mặc dù dưới các điều kiện phù hợp cho sự nảy mầm như hút nước, tăng hô hấp, tổng hợp acid nucleic và protein, trạng thái lúc đó được gọi là miên trạng (dormancy) hạt giống. Chế độ nhiệt và ánh sáng giúp kích thích nảy mầm do ảnh hưởng của miên trạng.3 Xử lý nảy mầm Xử lý nảy mầm là tác động đồng loạt lên lượng hạt giống cần gieo nhằm kích thích hạt nảy mầm nhanh và đều. Biện pháp là tác động vào vỏ hạt làm cho hạt dễ thấm nước, trương nở và xúc tiễn hoạt động sống của hạt, thúc đây sự hình thành nha rễ và mầm cây. Các biện pháp xử lý được chọn nhằm phá vỡ tình trạng miên trạng như: ngâm nước, chà xát, xử lý bằng cách bóc tách lớp vỏ bên ngoài hạt giống, dùng ánh sáng, dùng nhiệt độ, xử lý hóa chất đều nhằm kích thích sự nảy mầm hoàn toàn.
Theo Abdullah và ctv (2002), xử lý hạt giống bằng sinh học, hóa học, cơ học hay vật lý hoặc bởi sự kết hợp giữa các biện pháp khác nhau đều nhằm giảm tác động tiêu cực của các yếu tố bên ngoài hoặc bên trong dé hỗ trợ hạt nảy mam, tăng sức sống hạt, thậm chí hình thành cây khỏe mạnh với tiềm năng sản xuất tăng.4 Tỉ lệ nảy mầm Trong nông nghiệp, tỉ lệ nảy mầm là tổng số hạt nảy mam trong một thời gian cụ thé. Nó là thước đo thời gian nảy mầm và được biểu diễn bằng phan trăm. Ti lệ nảy mầm rất hữu ích trong việc tính toán lượng hạt cần thiết với diện tích trồng cho trước hay số cây mong muốn. Với các nhà sinh lý học và các nhà khoa học về hạt, tỉ lệ nảy mam là sự thuận nghịch của khoảng thoi gian cần cho quá trình nảy mầm đến khi hoàn 5 thành, bắt đầu từ lúc gieo hạt.
Mặc khác, số lượng hạt có thể nảy mam hoàn toàn trong một tập hợp thì được xem là khả năng nảy mam. Theo Rosemary (2003), hat co tỉ lệ nay mầm lớn hon 50% là hạt có chất lượng tốt, 30 — 50% là không tốt lắm, nhỏ hơn 30% là chất lượng tôi. Họ bầu bí không có tỉ lệ % nảy mầm cao như các cây khác.5 Khoảng thời gian khảo sát sự nảy mầm Khoảng thời gian khảo sát sự nảy mầm khác nhau ở các loài. Khoảng thời gian này quy định tùy loại hạt (Lê Quang Hưng, 2008) thay đổi khoảng 5 ngày như hạt đay, 5 ngày như hạt cai xanh 14 ngày như hạt cà chua, 21 ngày như hạt rau cần, 28 ngày như hạt măng tây, hạt gỗ tếch, 70 ngày như hat Rosa spp.
Khoảng thời gian phá vỡ miên trạng hạt trước hay trong thời gian khảo sát không được tính vào giai đoạn khảo sát sự nảy mam của hat.3 Su hinh thanh cay con 1.1 Khai niém Theo dinh nghia, su xuất hiện của rễ mầm đánh dấu sự kết thúc của quá trình nảy mầm và bắt đầu hình thành cây con, một thời kỳ mà khi cây con đã sử dụng hết nguồn dự trữ bên trong hạt.Sự nảy mầm và sự hình thành cây con là những giai đoạn rất quan trọng vì khi đó chúng rat dé bị tổn thương, bệnh tật và thiếu nước.2 Tiêu chuẩn đánh giá cây con Cây con được xem là phát triển bình thường khi dat 1 trong 2 tiêu chuẩn: cây con nguyên ven là cây con phát triển đầy đủ, khỏe mạnh; hai là cây khuyết tật nhẹ, cây con mọc cân đối gần như cây khỏe mạnh. Cây con bat thường: đó là khi cây con không mọc tốt trong cùng điều kiện đất đai, nhiệt độ, 4m độ ánh sáng. Cây có thé bị nhũn do bệnh, bị hư hại lá mầm, cây bị chùn ngắn phát triển còi cọc hoặc cây bi mat đỉnh ngọn, lá mọc ít hoặc không có lá.4 Một số nghiên cứu về phân bón lá sinh học trên họ bầu, bí Theo nghiên cứu của Ellyzatul và ctv (2018) cho kết luận rang mức 20 ml dung dịch chiết xuất từ chất thải từ cá làm tăng chiều dài thân chính, số lá, số quả và khối lượng quả trên cây dưa leo. Pham Văn Quý (2009) đã nghiên cứu anh hưởng của một số loại phân bón lá (Fish Plus Bloom, Solotek Bloom, Đầu Trâu 502) đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng dưa Lê Ngân Huy trong vụ xuân hè 2009 tại Hải Phòng.
Phun phân bón là Fish Plus Bloom, Solotek Bloom, Đầu Trâu 502 cho dưa Lê Ngân Huy có ảnh hưởng rất tốt đến sinh trưởng của cây. Cây cho diện tích lá tối ưu hơn so với công thức đối chứng đồng thời rút ngắn được thời gian sinh trưởng của cây từ 2 - 5 ngày, có ảnh hưởng dén tỉ lệ đậu quả va sô quả hữu hiệu trên cây. Trần Thị Hồng Thúy (2003) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lá hữu cơ sinh học đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và dư lượng nitrate (NOz) của khổ qua trên vùng đất xã Tân Hạnh, Biên Hòa, Đồng Nai. Kết quả các nghiệm thức đều có hàm lượng nitrate (NO) không vượt ngưỡng cho phép (400 mg/kg chat tươi).
Tất cả các nghiệm thức sử dụng phân bón là đều có hiệu quả kinh tế cao hơn nghiệm thức đối chứng. Theo Mai Thị Tân (1998), axit humic được hình thành từ sản phẩm phân giải xác hữu cơ và tổng hợp những hợp chất được phân giải của các vi sinh vật đất thông qua những phản ứng sinh hoá, sự tác động của các enzyme do vi sinh vật tiết ra và có xúc tac vô cơ khác. Sử dụng axit humic như một dạng “phân bón” qua lá cho các loại rau rất có hiệu quả. Hoạt tính sinh học của axit humic thể hiện khá cao trên cây họ cải, bau bí, cà và làm tăng năng suất từ 10 — 20%.
Axit humic có tác dụng kích thích sinh trưởng, phát triển của là mầm cây cải xoong trong khi các axit mun khác lại có tác dụng ức chế.3 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng 1.1 Khái niệm phan bón lá Phân bón lá là một dạng phân hữu ích có tác dụng nhanh chóng đến cây trồng đặc biệt sau các điều kiện bất lợi như hạn, ngập úng, sâu bệnh, làm tăng năng suất cây trồng đáng kể. Theo Trần Thị Thu Hà (2009) phân bón là là loại phân được sản xuất ở dạng nước hoặc được hòa tan trong nước và phun lên lá nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.