Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây lạc được trồng ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, để nâng cao năng suất, tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lạc được đặt lên hàng đầu. Mặc dù có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, song điều kiện sinh thái phù hợp với cây lạc sẽ cho năng suất cao. Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và kinh nghiệm trồng trọt cho thấy, lạc không yêu cầu khắt khe về độ phì của đất.
Do đặc điểm sinh lý của lạc, đất trồng lạc phải đảm bảo cao ráo, thoát nước nhanh khi có mưa to [37]. Thành phần cơ giới của đất trồng lạc tốt nhất là loại đất thịt nhẹ, cát pha, để đất luôn tơi, xốp và có độ pH từ 5,5 - 7 nhằm thoả mãn 4 yêu cầu của cây lạc: - Rễ phát triển mạnh cả về chiều sâu và chiều ngang. - Đủ ôxy cho vi sinh vật nốt sần hoạt động cố định đạm. - Tia quả đâm xuống đất dễ dàng.
- Dễ thu hoạch Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của lạc. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là khoảng 25 - 300C và thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho thời kỳ nảy mầm 25 - 300C, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 20 - 300C, thời kỳ ra hoa 24 - 330C, thời kỳ chín 25 - 2800C. Tích ôn hữu hiệu của lạc 2.8000C thay đổi tuỳ theo giống.
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lạc. Tuy lạc được coi là cây trồng chịu hạn, song thực ra lạc chỉ chịu hạn ở một giai đoạn nhất định. Độ ẩm đất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70 - 80% độ ẩm giới hạn đồng ruộng. Yêu cầu này có cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa, kết quả (80 - 85%) và giảm ở thời kỳ chín của hạt.
5 Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc từ khi mọc đến thu hoạch (không kể thời kỳ nảy mầm) là 450 - 700 mm. Lạc là cây ngắn ngày song phản ứng với quang chu kỳ của lạc là rất yếu và đối với nhiều trường hợp là phản ứng trung tính với quang chu kỳ. Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc. Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng đạt khoảng 200 giờ/tháng.
Để thâm canh tăng năng suất cây lạc, cũng như thâm canh bất kỳ một loại cây trồng nào khác, người ta phải áp dụng một hệ thống biện pháp kỹ thuật, trong đó có những biện pháp tác động lên đất, có những biện pháp nhằm chủ yếu vào cây lạc, có những biện pháp nhằm vào những loài sinh vật khác trong hệ sinh thái đồng ruộng…nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho cây lạc phát triển và tạo ra năng suất hạt lạc cao nhất. Hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng xuất lạc bao gồm: - Gieo trồng các giống lạc tốt. - Chọn đất thích hợp, làm đất kỹ. - Gieo đúng thời vụ, đúng kỹ thuật.
- Bón phân đầy đủ, cân đối, hợp lý. - Chăm sóc chu đáo, kịp thời. - Thu hoạch đúng lúc, đúng kỹ thuật, bảo quản lạc tốt. - Thực hiện luân canh, xen canh, tăng vụ có cơ sở khoa học và thực tế.
- Phòng trừ sâu, bệnh, cỏ dại đúng kỹ thuật [19]. Điều đầu tiên cần lưu ý là tính hệ thống của các biện pháp. Trong một hệ thống hợp lý, các biện pháp riêng rẽ ngoài việc phát huy các tác động tích cực của mình, còn cần tạo ra sự cộng hưởng, sự hỗ trợ trong việc phát huy hiệu quả các biện pháp khác. Khi áp dụng một biện pháp nào đó không thích hợp, chẳng những không phát huy được hiệu quả của biện pháp đó mà còn làm giảm tác dụng có ích của các biện pháp khác.
Vì vậy, hệ thống biện pháp thâm canh cần được áp dụng một cách đồng bộ và liên hoàn. 6 Việc áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh cần cơ động và linh hoạt. Không có bất kỳ một công thức có sẵn nào có thể đúng và phát huy được mọi tác dụng ở bất cứ điều kiện sản xuất cụ thể nào. Các điều kiện cụ thể của sản xuất vô cùng phong phú và đa dạng.
Vậy không nên áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh một cách cứng nhắc, máy móc, dập khuôn, nhưng cũng không nên tự do tuỳ tiện. Tiềm năng thâm canh cây lạc ở nước ta còn nhiều. Khi nông dân dành cho cây lạc sự chú ý thích đáng, sự quan tâm chăm sóc cần thiết và áp dụng một cách sáng tạo các biện pháp thâm canh, chắc chắn năng suất lạc sẽ tăng cao. Những tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) để phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng, đáp ứng nhu cầu lạc cho công nghiệp chế biến và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Vì vậy, cần mở rộng các vùng trồng lạc chuyên canh trong cả nước. Mục tiêu của đề tài này là đánh giá khả năng thích ứng của một số giống lạc năng suất cao và các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị trên vùng đất rẫy, phù hợp với điều kiện của nông dân và vùng sinh thái, thay thế giống cây trồng hiện có chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Khi đưa giống mới và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt mới vào sản xuất, người ta quan tâm đến hiệu quả kinh tế của nó và việc nó có phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân địa phương hay không. Đó cũng chính là cơ sở để thực hiện đề tài này.
Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt Cây lạc thuộc họ đậu, bộ rễ có vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) sống cộng sinh, có khả năng cố định nitơ phân tử ở ngoài không khí để cung cấp dinh dưỡng cho cây. Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều đạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể. 7 Vũ Đình Chính (2011) [37]. Lạc là cây trồng có hàm lượng đạm cao trong thân lá, là loại cây trồng thuộc họ đậu, có thời gian sinh trưởng ngắn và có khả năng cố định nitơ khí quyển thành NH3 cung cấp cho cây trồng.
Do vậy, đưa lạc vào các công thức luân canh sẽ có tác dụng cải tạo đất tốt. Sau mỗi thời vụ trồng lạc đã để lại cho đất từ 40 - 70kg đạm/ha. Trên cơ sở đó, khi sử dụng lạc là cây trồng trước hoạc cây trồng sau đều rất tốt trong các công thức luân canh hàng năm và luân canh nhiều năm. Cây lạc được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh trồng trọt, việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng khoáng với các loại cây trồng, có khả năng làm giảm mức độ sói mòn của đất, nâng cao độ phì của đất đặc biệt trong mùa mưa [26].
Theo kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn đã rút ra được những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: đưa các cây họ đậu vào luân canh với ngô, sắn giúp cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất. Ngô Đức Dương (1984) [2] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khi luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, pH đất tăng, lượng chất hữu cơ tăng, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đều tăng. Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự (1991) [25] khi so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức luân canh có lạc Xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả 8 đồng vốn đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất. Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở vụ Xuân như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụ Xuân cho thu nhập thuần cao hơn so với trồng các cây trồng khác.
Từ đó có thể thấy, lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là với các công thức luân canh nền lúa và trồng lạc trong vụ xuân cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác cùng thời vụ. Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới Cây lạc là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam.
Hiện nay, cây lạc được trồng ở hơn 100 nước và là cây trồng đứng thứ 2 sau cây đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng trên thế giới. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (triệu/ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2010 2011 2012 2010 2011 2012 2010 2011 2012 Thế Giới 25,30 21,78 24,62 1,66 1,77 1,67 41,89 38,61 41,27 Ấn Độ 5,94 4,19 4,90 1,39 1,65 1,18 8,26 6,93 5,78 Trung Quốc 4,55 4,67 4,73 3,45 3,45 3,56 15,70 16,11 16,87 Nigeria 2,79 2,34 2,42 1,36 1,26 1,27 3,79 2,96 3,07 Senegal 1,19 0,86 0,70 1,07 0,60 0,95 1,28 0,52 0,67 Châu Mỹ 1,01 0,99 1,28 3,09 3,06 3,62 3,13 3,04 4,64 Indonesia 0,62 0,54 0,56 1,25 1,28 1,27 0,78 0,70 0,71 Việt Nam 0,23 0,22 0,22 2,10 2,08 2,14 0,49 0,46 0,47 Nguồn: Faostat, http://faostat.1: Diện tích trồng lạc năm 2012 của thế giới có xu hướng tăng (2,86 triệu ha) so với 2011, nhưng lại giảm (0,68 triệu ha) so với 2010. Ấn Độ có diện tích giảm (1,04 triệu/ha) so với năm 2010, lại có tốc độ tăng so với năm 2011 (0,71 triệu/ha).