Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về cây Ba kích Cây Ba kích còn có tên gọi khác: Ba kích thiên, day ruột ga, chau phóng xi, thay tay cay (Tay), say cay (Thai), chày kiang doi (Dao), chéi hoàng kim, liên châu Ba kích. Có tên tiếng Anh là Medicinal Indian Mulberry. Trong y học cô truyền Trung Quốc, rễ Ba kích (Radix Morindae) được biết đến với tên gọi là Bajitian. Có tên khoa học là Morinda officinalis thuộc: GIỚI: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa môi (Lamiidae) Bộ: Long dom (Gentianales) Ho: Ca phé (Rubiaceae) Chi: Nhau (Morinda) Loài: Ba kích (Morinda officinalis) Hình 1.1 Hình thái cây Ba kích (Bùi Xuân Chương, 2006) 1.1 Phân loại, phân bố và sinh thái 1.1 Phân loại Ba kích có hai loại là Ba kích tím và Ba kích trắng (xem Hình 1.
Ba kích tím: ngọn có màu tím, vỏ rễ non có màu tím hồng sau già có màu vàng sậm, phần thịt bên trong có màu hanh tím. Khi ngâm rượu làm cho màu rượu chuyên thành màu tím sậm. Loại này khá hiếm trong tự nhiên chỉ chiếm 10 — 20% và có hàm lượng dược liệu trong rễ tốt hơn Ba kích trắng nên được quan tâm sử dụng nhiều (Nguyễn Quỳnh, 2022). Ba kích trắng: ngọn có màu xanh, vỏ rễ vàng nhạt, phần thịt bên trong có màu trắng trong, không có sắc tím.
Khi ngâm rượu chuyên màu tím nhạt. Loại này chiếm khoảng 80 — 90% số lượng Ba kích trong tự nhiên (Nguyễn Quỳnh, 2022). Kết quả nghiên cứu dau hiệu di truyền DNA trong quan thé Ba kích cho thấy giữa Ba kích tím và trắng chỉ có sự sai khác nhỏ nên vẫn thuộc dấu hiệu của cùng một loài Morinda officinalis tuy có sự khác biệt về hình thái (Phạm Văn Kién va ctv, 2020).2 Phân bố Trên thế giới, Ba kích phân bố tự nhiên ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như: Lào, Việt Nam, Ấn Độ, các tỉnh phía nam Trung Quốc (Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên) (N guyễn Tap va ctv, 2007; Zhang va ctv, 2018). Ở Việt Nam, cây Ba kích mọc hoang, phân bồ nhiều ở vùng đồi núi thấp và trung du phía Bắc như: Quảng Ninh (Cẩm Phả, Yên Tử), Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai (Sa Pa), Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hòa Bình, Hà Tây (Hà Nội), Bắc Giang (Nguyễn Chiều và Nguyễn Tập, 2007).
Ba kích cũng được tìm thấy trong tự nhiên ở một số tỉnh miền trung như: Quảng Bình (Hóa Sơn), Quảng Trị (Bắc Hướng Hóa), Thừa Thiên — Huế, Da Nẵng (Bà Nà), Quảng Nam (Tây Giang, Phước Sơn).3 Sinh thái Ba kích là cây ưa ẩm, ưa sáng và hơi chịu bóng khi còn non. Trong tự nhiên thường thấy Ba kích trong các kiểu rừng thứ sinh hoặc rừng xen tre nứa (ít). Độ cao phân bố phô biến thường dưới 300 m, trên các loại đất feralit đỏ vàng hay vàng đỏ va hơi chua (Nguyễn Tập, 2006). Cây sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nhiệt đới gió mùa nóng và âm.
Yêu cầu về sinh thái là nhiệt độ trung bình năm 22°C — 24°C, độ âm không khí trung bình năm từ 82% — 89% và lượng mưa hang năm khoảng 2000 mm (Nguyễn Chiều, 2001; Nguyễn Tập và ctv, 2007). Ba kích là cây thường xanh, sinh trưởng mạnh vào mùa hè đến mùa đông nếu gặp sương muối nhiều cây bị rụng lá; cây ra hoa quả hàng năm, mùa hoa tháng 5 — 6, mùa qua tháng 7 — 10. Trong điều kiện trồng trọt cây có giá thé leo và được chiếu sáng day đủ sẽ ra hoa quả nhiều, những cây giá thé leo bị đỗ mặc dù có hoa nhiều nhưng lượng kết quả thấp. Ba kích mọc tự nhiên thường có ít hoa quả hơn trồng (Nguyễn Tập, 2006).
Ba kích tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt, cây bị chặt phá vẫn có khả năng mọc chỗi từ phần còn lại của thân và gốc (Nguyễn Tập và ctv, 2007).2 Đặc điểm thực vật học Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2006); Nguyễn Chiều và Nguyễn Tập (2007); Nguyễn Thị Thu Hà và ctv (2018); Ngô Thị Nguyệt và ctv (2018), cây Ba kích có các đặc điểm thực vật học như sau: 1.1 Thân, cành Thân dạng dây leo gỗ, sống lâu năm. Cây leo bằng thân quấn vào cành cây khác, giàn giá đỡ hoặc tự cuốn tạo thành bụi lớn, thân cây có thê dài tới hàng mét. Thân cành non dạng bốn cạnh, màu xanh (Ba kích trắng) hoặc tím (Ba kích tím), có lông bao phủ; thân cành gia tròn, màu nâu, nhẫn, không lông.2 Lá Lá dạng đơn nguyên, mọc đối. hiếm khi mọc vòng ba; khi non mau xanh (Ba kích trắng) hoặc màu tím (Ba kích tím), khi già màu trắng mốc.
Cuống lá ngắn 4 - 8 mm, không phân nhánh chỉ mang một phiến lá, khi lá rụng cả cuống và phiến cùng rụng một lúc. Lá kèm màu nâu (Ba kích trắng) hoặc tím (Ba kích tím) dạng mo, có xu hướng tạo thành ống ôm sát vào thân. Phiến lá dày và cứng, có các dạng: hình mác thuôn nhọn hoặc bau dục, elip thuôn dải hoặc hình mác ngược hay hình trứng, hiểm khi thấy hình mác hẹp dài. Phiến lá dài 3 — 16 em, rộng 1,9 — 6,5 cm, đầu lá thuôn nhọn hay nhọn sắc, gốc lá nhọn, hình nêm, tròn hay gần bằng, có khi hơi lõm dang tim.
Phién lá có cau tạo lung bụng với chức năng quang hợp và có hệ thống gân lá nỗi rõ, tương ứng với các bó dẫn ở bên trong làm nhiệm vụ vận chuyền. Gan lá hình lông chim, lá non có lông ở gân và mép lá, thường tập trung dày hơn ở mặt dưới, sau già ít lông hơn hoặc không lông.3 Hoa Hoa tập trung thành cụm tán tròn ở đầu cành, cụm hoa chủ yếu là xim tán kép, ít khi là cụm hoa tan đơn, ở cum xim tán kép hoa hầu như không cuống, ở cụm tán đơn hoa có cuống rõ ràng. Hoa nhỏ, dai 0,3 — 1,5 cm, gồm 8 — 10 hoa, lúc non màu trắng sau hơi vàng. Lá đài hình chén hay hình ống gồm 4 lá đài nhỏ hình tam giác đều phát triển không đều nhau.
Trang hoa màu trắng, dính liền ở dưới thành ống ngắn 2 — 3 mm, họng có lông, ở đầu có 3 — 4 cánh tràng dạng tam giác nhỏ. Mỗi hoa có 3 — 4 nhị, đính ở đáy của ống tràng; bao phan nhọn dau, hai 6; chỉ nhị cực ngắn. Bau nhụy có dang hạ, hợp; vòi nhụy ngắn chẻ đôi ở đỉnh, đầu nhụy hai thuỳ.4 Rễ Rễ có dạng rễ củ hình trụ tròn, mập, cong queo phân nhánh nhiều cấp thành bộ rễ phân bố tỏa tròn quanh gốc cây, nhìn ngoài có vết thắt thành từng đoạn như ruột ga (nên còn gọi là dây ruột gà) (xem Hình 1. Vỏ ngoài màu nâu nhạt (Ba kích trắng) hoặc hồng nhạt (Ba kích tím), nhám, có vân dọc.
Bên trong là lớp thịt dày mau trắng (Ba kích trắng) hoặc tím (Ba kích tím), không mùi, vi ngọt nhưng hơi chat, trong cùng 6 là lõi củ, thông thường khi chế biến phần lõi được loại bỏ. Rễ Ba kích xoắn dài từ 20 — 60 cm, cây lâu năm có thé có rễ dai hơn, đường kính từ 1 — 3 em.3 Rễ của một khóm Ba kích 7 năm tuổi được thu hoạch và rửa sạch (Nguyễn Chiều và Nguyễn Tập, 2007) 1.5 Quả, hạt Quả tạo thành chùm, có hai loại là chùm quả đơn (quả rời) và chùm quả kép (quả tụ) (xem Hình 1. Chùm quả đơn, các qua rời nhau, có cuống rõ rang. Chùm quả kép do nhiều quả dính liền nhau đính trên các cuống xim nhỏ tạo thành một khối.
Cả hai loại quả này đều có thé thấy ở cả cây Ba kích trang và Ba kích tím. Thậm chí trên một cây hay trên một chùm quả vừa có quả tụ lẫn quả rời. Quả hình cầu, kích thước 6 — 10 mm, quả non màu xanh khi chín có màu đỏ, mang dai tôn tại ở đỉnh. (Nguyễn Chiểu và Nguyễn Tập, 2007) Mỗi quả có 4 hạt.
Hạt có dạng gần giống hạt đậu tròn nhưng vác, có kích thước 3 — 3,5 x 3 mm, có lông ngắn thô màu hồng, khi khô màu trang ngà hoặc trắng vàng, vỏ hạt nhám.3 Bộ phận sử dụng và thành phần hóa học Bộ phận sử dụng của cây Ba kích là rễ. Trong số hơn 100 hợp chất hóa học đã được phân lập, các iridoid glycoside, anthraquinon, oligosaccharid, polysaccharid là thành phan chính và quan trọng trong rễ Ba kích. Bảy iridoid glycoside cụ thé là monotropein, asperuloside, axit asperulosidic, axit deacetyl asperulosidic, morofficinaloside, morindolide, asperuloside tetraacetate da được phân lập từ dich chiết ethanol của rễ Ba kích (Yoshikawa va ctv, 1995; Chen và ctv, 2009). Theo Zhang và ctv (2018), có tổng cộng 28 hợp chất anthraquinon được phân lập từ rễ Ba kích.
Con số này ngày càng tăng lên khi các hợp chất anthraquinon mới được tim thấy trong rễ Ba kích như: 3-hydroxy-2-hydroxymethyl-1-methoxyanthraquinon (Yang va ctv, 2019); 2,8-dihydroxy-1-methoxyanthracene-9,10-dione (Luo va ctv, 2021). Một số anthraquinon đã được kiểm tra tác dung dược lý va có hoạt tính sinh học cao như: rubiadin; rubiadin-l-methyl ether; 2-hydroxy-1-methoxy-anthraquinon; physicion; 1,3,8-trihydroxy-2-methoxy-anthraquinon (Wu và ctv, 2009; Bao va ctv, 2011; Lee va ctv, 2017). Ré Ba kích chứa nhiều loại oligosaccharid như: bajijiasu (Chen va ctv, 1999; Wu va ctv, 2015); mannose (Chen va ctv, 1999); nystose, 1F-fructofuranosyl nystose, inulintype hexasaccharid va heptasaccharid (Cui va Yang, 1995; Li va ctv, 2004; Chen, 2009); sucrose, trisaecharid, mulotriose, inulotetraose, inulopentaose (Feng và ctv, 2012); 1-kestose, 1F-fructofurano-syinystose (Deng va ctv, 2012). Một số polysaccharid đã được phat hiện trong rễ Ba kích như: MOHP-I (Yang và ctv, 2011); MOHP-II, MOHP-II, MOHP-IV (He và ctv, 2005; He và ctv, 2006); MOP-60, MOP-100, MOP-60-100 (Xu va ctv, 2019); MP-1, MP-2, MP-3 (Zhang và ctv, 2009); MOPI-3 (He va ctv, 2009).
Ngoài ra, một số loại hợp chất khác cũng đã được phân lập từ rễ Ba kích như: axit hưu cơ (Cui va Zhang, 1995; Chen, 2009; Zhang và ctv, 2010); tinh dau (Liu va ctv, 2005; Yi va ctv, 2009); cac phytosterol, coumarin (Zhang va ctv, 2010); scopoletin (Wu va ctv, 2009); flavonoid (Kang va ctv, 2015); cac chat v6 co va axit amin.4 Gia trị của cay Ba kích 1.1 Giá trị kinh tế Ba kích là cây thuốc quý, được dùng nhiều trong y học cô truyền. Trước kia, mỗi năm ở miền Bắc thường khai thác được từ vai chục đến trên 100 tắn/năm Ba kích ngoài tự nhiên cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khâu với giá trị kinh tế cao (Nguyễn Tập và ctv, 2007). Việc người dân đồ xô vào rừng tìm kiếm và khai thác rễ Ba kích đem bán cho thương lái Trung Quốc, đã khiến cho số lượng Ba kích mọc tự nhiên suy giảm một cách nghiêm trọng. Ba kích đã được nước ta ban hành chế độ khai thác hạn chế và cần được bảo vệ (Nghị định Chính phủ, 2002).