CHƯƠNG I TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về nắm hoàng chi Hoàng chi chuẩn có tên khoa học là Tomophagus colossus, một loại nam quý trong lục bảo linh chi (gồm đỏ, vàng, tim, đen, trang và xanh) có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hoàng chi được biết đến trong dân gian như một vị thuốc hỗ trợ điều trị tốt trong các trường hợp suy nhược cơ thé, giúp thanh lọc cơ thể, tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ gan (Kleinwatcher P va ctv, 2001). Hoang chi Cát tiên có tên khoa học là Tomophagus cattienensis, mới được phat hiện vào năm 2011 bởi Lê Xuân Thám và ctv (2011). Vì là loài mới nên hiện nay vẫn đang được tìm hiểu và nghiên cứu.1 Nguồn gốc và phân loại Theo Ngô Anh và ctv (2001), ở Việt Nam Tomophagus colossus được ghi nhận lần đầu tiên bởi Patouillard (1897) với tên gọi G., và loài nay được ghi nhận lại gần đây nhất ở Việt Nam.
Loài thứ hai của chi là Tomophagus caffenensis được mô ta bởi Lê Xuân Thám và ctv (2011) từ các mẫu vật thu được trong các đợt điều tra khu hệ nắm lớn ở Vườn Quốc gia Cát tiên, dựa trên việc so sánh các đặc điểm hình thái của loài này Với các mau vật của loài Tomophagus colossus đã phát hiện trước đó đặc biệt có sử dụng các nghiên cứu về sinh học phân tử thông qua việc phân tích vùng gene ITS của các loài nghiên cứu đối chiếu với các dit liệu trên ngân hàng gene (genebank) dé xác lập loài thứ hai cho chi nay. Các nghiên cứu đã được đăng trên tạp chi Mycol Progress năm 2011.2 Hình thái học quả thé nam hoàng chỉ Hoàng chi chuẩn (7onmophagus colossus) loài này dé bi di dạng thé quả do qua mềm nhiin. Mép nam khi non mong tròn, lớp vỏ tan láng nhẫn, có thé bóng khi tươi non, vàng ươm tươi - vàng chanh - vàng cam, khá mỏng, dé đập vỡ. Khi nắm giả khô lớp vỏ ít nhiều nứt dập, tuy nhiên lớp vỏ vẫn màu vàng, vàng chanh, gần như không đổi màu, đây là một đặc điểm rất khác so với loài hoàng chi Cát tiên chỉ khi thé qua còn rất non mới có màu vàng, vàng chanh còn khi thể quả hoàn chỉnh và trưởng thành thì chuyển sang màu vàng nâu sậm (Phạm Ngọc Dương và Nguyễn Thị Anh, 2015).
Hoang chi Cát tiên (Tomophagus caffenensis) thé quả mọc đơn lẻ trên gốc cây gỗ lớn đã chết trong thời kỳ phân hủy mạnh, thường gặp vài thé quả to nhỏ đang phát triển trên cùng một cây chủ, có cuống nhưng không rõ. Khi non là dạng cục mọng dạng cầu, hơi vàng, vàng bóng ở phần gốc, sau tỏa rộng dan thành dang quạt, dang gần tròn. Thể quả trưởng thành thường có dạng u móng hình quạt , day tới 11-15 cm, chiều dai tới >15-20 cm, chiều rộng chỗ lớn nhất tới >15 cm. Đặc điểm thé quả thường 6n định hình thái dạng quạt tròn cũng khác biệt với hoàng chi chuan (Phạm Ngoc Duong và Nguyễn Thị Anh, 2015).2 Loài mới Tomophagus cattienensis LX Tham & Jm Moncalvo 1.
Đặc điểm dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh của nấm hoàng chi 1.1 Đặc điểm dinh dưỡng của nắm hoàng chi Vì nấm hoàng chi là một trong các loại nam linh chi nên sẽ có đặc tính tương tự với nam linh chi. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển yêu cầu cung cấp day đủ các hợp chất cacbon, đạm, chất khoáng và chất sinh trưởng. Nguồn cacbon chủ yếu là các đường đa, đường đơn. Đối với các cao phân tử như lignin, cellulose và tinh bột thì chúng không thé sử dụng trực tiếp mà phải tiết ra các enzyme ngoại bào dé phân giải thành các chất đơn giản để hấp thụ (Trần Văn Mão, 2004).
Theo Lê Xuân Thám (1998), các loại bột ngũ cốc, bột cám gạo, bột bánh dầu được xem là nguồn dinh dưỡng cơ bản cho nam, hàm lượng bổ sung của chúng khá cao từ 15 — 20% so với tông lượng cơ chat vì nam linh chỉ đòi hỏi ty lệ C/N nhỏ. Theo Nguyễn Hữu Đống (2003), nam linh chi phân bố rộng khắp trên các loài cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các cây tre, trúc, dừa, cau, cọ dừa và nho. Nắm linh chi tiết ra các enzyme phân giải màng tế bào endopolygalaturonase (endo — PG) và endopectin enthyl — translinase (endo — PMTE) có tac dụng làm nhũn tế bào thực vật rat mạnh làm cho các loại gô và ré cây bi mun ra. Theo Trần Văn Mão (2004), nếu bố sung nhiều đạm sợi nam sẽ mọc nhiều, khó hình thành quả thể với tỷ lệ C/N là 30/1 hoặc 40/1.
Sự sinh trưởng của nắm linh chi còn cần các nguyên tố vi lượng như: Ca, P, Mg, K. Theo Ngô Anh và ctv (2008), nắm hoàng chi phát triển trên môi trường dinh dưỡng có min cưa cao su Keo tai tượng, thứ đến là min cưa cao su Keo tai tượng — Ươi bay (1:1), thấp nhất trên môi trường min cưa cao su g6 cao su.2 Điều kiện ngoại cảnh của nắm hoàng chỉ Bang 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nam linh chi Yếu tố Giai đoạn lan to Giai đoạn quả thể Nhiệt độ 20°C — 35°C 25°C —30°C Am độ 55% — 65% 90% ~ 95% pH 4,5—6,0 4,5 —6,0 Anh sang Khéng can Cần anh sáng tán xa (Nguồn: Nguyễn Lân Dũng, 2003) Nhiệt độ thích hợp giúp tơ nắm phát triển nhanh và mạnh nên cần duy trì trong khoảng nhiệt độ thích hợp. Âm độ giữa hai giai đoạn lan tơ và qua thể của nam linh chi có sự khác biệt đáng ké trong quá trình nuôi trồng cần chú ý việc đảm bảo độ ẩm cho nam, chỉ sô pH và ánh sáng cũng cân phải quan tâm đến trong quá trình nuôi trông.4 Thanh phần hóa học và tác dụng dược lý của nắm hoàng chi 1.1 Thành phần hóa học của nắm hoàng chỉ Nắm hoàng chi chuẩn (Kleinwachter va ctv, 2001, Riham Salah El Dine và ctv, 2008) được chứng minh có tác dụng da dang, tăng cường hiệu lực chống ung thư phối mạnh khi phối hợp với biệt dược Gefitinib. Theo Cao Đăng Nguyên (2010), đã lấy mẫu vật được sấy khô về nghiên cứu và cho ra kết quả sự tích lũy celllulose ở các loài nắm hoàng chi nghiên cứu cao hơn nhiều so với nam linh chi (Ganoderma lucidum).
Nguyễn Hồng Phúc (2018), giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu của nam hoàng chi, theo kết qua phân tích thành phan hóa học nam hoàng chi của phan viện Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh và Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh được thé hiện cụ thể ở bảng sau: Bang 1.2 Thành phan hóa học của qua thé nắm hoàng chi chuẩn Thành phần Ty lệ (%) Nước 12-13 Cellulose 62-63 Hợp chất nitơ 17,1 Chat béo 5 Hop chat phenol 0,1 Hop chat sterol toan phan 1,15 Saponin toan phan 0,3 (Nguon: Nguyễn Hong Phúc, 2018) 1.2 Tac dụng dược lí của nắm hoàng chi Linh chi từ lâu đã được xem là loại dược phẩm hang đầu của y học phương Đông. Do tính chất quý hiếm và tác dụng y học, linh chi thường được coi là dấu hiệu mang lại may mắn, sức khỏe và trường thọ. Trong y học cô truyền, linh chi được ding dé tăng thông minh và sáng suốt, kéo dài tudi thọ.3 Lục bảo linh chi và các tác dụng trị liệu Tên gọi Màu sắc Đặc tính dược lý Thanh chi (long chi) Xanh Vi chua, tinh bình, không độc chữa tri sang mat, bổ gan khí, an than, tăng trí nhớ. Hồng chi (xich chi) Đỏ Vi đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng tim, bồ trung, trị tức ngực.
Hoàng chi (kim chi) Vang Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần, ích tì khí. Bach chi (ngoc chi) Trang Vi cay, tính bình, không độc, ích phối, thông mũi, an than, chữa ho ngịch hoi. Hắc chi (huyền ch) Den Vị ngọt, tính bình, không độc, trị bí tiểu, ích thận khí. Tứ chi Tím VỊ ngọt, tính ôn, không độc.
tridau nhức xương khớp, gân cốt. Nam hoàng chi chuẩn Tomophagus colossus có khả năng kháng khuẩn đối với 2 nhóm vi khuẩn G` (B. aureus) và vi khuẩn G' (E. parahaemaliticus), khả năng thải độc tỗ cá nóc (s.
Các nghiên cứu về nắm hoàng chỉ trên thế giới và Việt Nam 1.1 Các nghiên cứu về nắm hoàng chỉ trên thế giới Theo Kleinwatcher P. và ctv (2001), nghiên cứu colossolactones, chất chuyên hóa triterpenoid mới từ nắm hoàng chi Việt Nam. Kết quả tìm ra bảy chất chuyên hóa triterpenoid mới (colossolactones; 1-7) được phân lập từ quả thé của nắm hoàng chi chuẩn, và cau trúc của chúng được xác định bằng phương pháp MS và NMR. Riham Salah El Dine và ctv (2008) nghiên cứu hoạt tính kháng HIV-1 protease của lanostane triterpenes từ nam hoàng chi Việt Nam.
Kết quả có bốn triterpenes lanostane mới, colossolactone V (1), colossolactone VI (2), colossolactone VII (3), va colossolactone VIII (4), được phan lập từ qua thé của nam hoàng chi chuẩn Việt Nam, cùng với hợp chat đã biết là colossolactone E. Các cấu trúc của 1-4 được ấn định trên cơ sở bằng chứng quang phổ, và cấu hình tuyệt đối của chúng được xác định bằng phương pháp quang phô CD và phương pháp este Mosher. Các hợp chất 1-5, cũng như hai hợp chat được phân lập trước đó [schisanlactone A (6) và colossolactone G (7)] từ cùng một loại nam, được đánh giá để ức chế protease HIV-1, với gia trị [C50 cho các hợp chất mạnh nhất từ 5 đến 13 wg /mL. Theo Masahiko Isaka va ctv (2020), nam hoàng chi chuẩn đã được nghiên cứu về mặt hóa học.
Các phân tích so sánh giữa quả thể tự nhiên, quả thể được nuôi cấy nhân tạo và nuôi cấy sợi nhờ việc phân lập đã tìm ra tổng cộng 13 lanostanes mới được biến đổi cao, ganocolossusins A — H (1-8) và ganodermalactones T — X (9-13) , cùng với 23 hợp chat đã biết (14-36). Có sự chồng chéo đáng ké của các hợp chất giống nhau giữa ba trang thái khác nhau của vật liệu nam. Ganocolossusin D (4) thé hiện 8 hoạt tính chống sốt rét mạnh nhất chống lại Plasmodium falciparum K1 (chủng đa kháng thuốc) với giá trị IC50 là 2,4 uM, trong khi không gây độc cho tế bao Vero ở 50 ug / mL.2 Cac nghiên cứu về nam hoàng chi ở Việt Nam Đoàn Suy Nghĩ và Nguyễn Thị Thu Thủy (2009) nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh hóa và kha năng kháng khuẩn của nam hoàng chi Tomophagus colossus. Kết qua nghiên cứu đã xác định được một số chỉ tiêu sinh hóa của nắm hoàng chi 7ønophagius colossus: Flavonoit (7,38 + 0,20)%; hàm lượng đường khử ((5,33 + 0,10) %; vitamin C (0,089 + 0,020)%.
Dịch chiết từ nam hoàng chi Tomophagus colossus bằng nước hay etylic đều có hoat tinh kháng khuẩn đối với 2 nhóm vi khuân G` (B. aureus) và vi khuân GŒ (E.