Đặt vấn đề Nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) cung cấp cho cơ thể một nguồn năng lượng kỳ diệu, nó vừa là thuốc an thần vừa là thuốc bổ, vừa có công dụng hỗ trợ tăng cường hoạt động miễn dịch, đồng thời giúp trẻ hóa và cân bằng cơ thể.Nấm Linh Chi là một loại siêu thảo dược, không có bất cứ một loại thuốc bổ nào dù Đông y hay Tây y nào có thể so sánh, do cùng lúc chứa nhiều hoạt chất quý hiếm như Polysaccharides, Triter-penoids (axit ganoderic), ganopoly, lanostan, và germanium (hàm lượng nhiều gấp 18,4 lần Nhân sâm). Ngoài ra, nấm Linh Chi đỏ còn chứa nhiều dược chất thiết yếu khác như carbohydrate, axit amin, protein, steroid, các chất béo, chất xơ, alkaloid, glucoside, dầu dễ bay hơi, vitamin B2 (riboflavin), acid ascorbic, acid fumaric, aminoglucos, ergosterol, nitol, coumarin, alkaloid, lacton và các enzym khác nhau. Nó cũng chứa các khoáng chất như canxi, kẽm, magiê, đồng, coumarin, mannitol, Nhờ sự đa dạng cua các hoạt chất quí hiếm, nấm Linh chi có tác dụng hỗ trợ điều trị rất nhiều căn bệnh khác nhau. Keo (Acacia) là loài cây sinh trưởng nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn, gỗ được dùng làm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, nguyên liệu giấyngoài ra, Keo là loài cây có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong khí quyển rất cao.
Keo có khả năng thích ứng với nhiều vùng sinh thái, đây là loài cây cải tạo đất, tăng độ phì, độ xốp và các tính chất lý, hóa khác của đất. Keo đã được gây trồng rộng rãi trên khắp cả nước ở quy mô rừng trồng tập trung và trồng cây phân tán. Theo thống kê đến 31 tháng 12 năm 2013, diện tích rừng trồng cả nước ta là 3. Do vậy phế phụ phẩm từ mùn gỗ Keo là rất lớn hiện nay lượng phế thải đó chưa được sử dụng tối đa để đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ những lợi ích thực tế trên, em chọn thực hiện đề tài“Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trồng nấm Linh chi đỏ (Ganoderma lucidum) trên giá thể mùn cưa gỗ Keo”. Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu - Xác định được điều kiện sinh trưởng và phát triển tốiưucủa Nấm Linh Chi. h 2 - Nghiên cứu được kỹ thuật trồng nấm Linh chi đỏ - Đánh giá điều kiện thực trong trồng và chăm sóc nấm Linh chi đỏ - Xác định được những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện công việc 1. Tính mới của vấn đền nghiên cứu - Nghiên cứu nuôi trồng nấm Linh chi đỏ trên mùn cưa gỗ Keo cho năng suất cao, giảm chi phí và tăng tối đa lợi nhuận về mặt kinh tế.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Biết cách thu thập, phân tích và sự lí thông tin cũng như kỹ năng sản xuất và gây trồng nấm Linh chi đỏ - Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng bước vào cuộc sống sau này -Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với các quy trình, các thao tác kỹ thuật sử dụng các trang thiết bị nghiên cứu khoa, kỹ năng thực hành họctrong phòng thí nghiệm. Qua đó kết hợp với các kiến thức lý thuyếtđã được học sinh viên sẽ có những hiểu biết chuyên sâu và cái nhìn tổng quát hơn.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Là cơ sở để sản xuất nuôi trồng nấm Linh Chi đỏ bằng giá thể mùn cưa gỗ keo phục vụ trong lĩnh vựcsản xuất Nông - Lâm nghiệp. - Đề tài góp phần bổ sung cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu và sản xuất nuôi trồng nấm Linh Chi đỏ h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về cây Keo Keo (Acacia) là loài cây sinh trưởng nhanh, thuộc nhóm loài cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m, đường kính trên 60cm(MacDicken và Brewbaker, 1984). Hoa lưỡng tính, tràng hoa màu kem, nhị nhiều vươn dài, hoa có mùi thơm,vị ngọt nhẹ.
Quả có màu xanh lá cây, rộng 3-5mm dài 7-8 cm, lúc chín có màu đen. Quả non thẳng, sau đó quả xoăn lại bện vào nhau thành những bó không đều. Các hạt có màu nâu đen, sáng bóng hạt dài từ 3-5mm và rộng 2-3mm. Keo có thân thẳng đẹp, rễ có nốt sần do cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium nên có khả năng cải tạo đất, song có nhược điểm là rễ nông, dễ bị đổ khi có gió bão.Gỗ Keo được dùng làm đồ nội thất, vật liệu xây dựng, nguyên liệu giấy, ván dăm, ván sàn, củi đun, than hoạt tính và mùn cưa có thể nuôi trồng nấm.
Các tính chất cơ lý của gỗ Keo tăng theo tuổi và biến động rất lớn giữa các cây. Gỗ Keo có trọng lượng trung bình từ 420-600 kg/m3, tỷ trọng trung bình từ 0,45-0,5 nhưng ở giai đoạn 12 tuổi có thể đạt 0,59. Keo 14 năm tuổi có tỷ trọng tăng từ lõi ra vùng giữa thân và giảm tới phần giác Phân bố và sinh thái: Keo có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea (PNG) và Indonesia đã trở thành một loài cây được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới. Phân bố chủ yếu từ 190 vĩ Nam đến 240 vĩ Bắc, độ cao 100 - 780m trên mặt nước biển.
Keo phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới, lượng mưa trung bình từ 1446 – 2970 mm/năm song Keo có thể chịu được ở điều kiện khô hạn 1000 mm/năm. Keo phù hợp với những nơi có nhiệt độ bình quân từ 25 - 320C, đất hơi chua thoát nước tốt, pH từ 4,5 - 6,5 Hạt Keo có khả năng nảy mầm tốt, hạt sau khi xử lý bằng nước sôi trong vòng 30 giây kích thích sự nảy mầm tốt, hạt có thể gieo trực tiếp vào bầu hoặc gieo vào khay đến khi thành cây con thì cấy vào bầu. Cây 3 tháng tuổi trong giai đoạn vườn ươm cao từ 25-40 cm(Srivastava, 1993). Keo ở Philippines để lấy hạt khi bón phân lân tăng khả năng đậu quả (Manubag et al.
Keo tai tượng có thể trồng h 4 với các mật độ khác nhau phụ thuộc vào mục đích kinh doanh và độ phì của đất. Trồng rừng để cung cấp gỗ với mật độ trung bình 1100 cây/ha (Srivastava, 1993).Nghiên cứu về nấm Linh Chi đỏ Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) là một loài nấm thường được tìm thấy ở các nước Á Đông.Từ xưa đến nay, ở Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Á khác đã sử dụng nấm Linh chi như một loại thảo dược để giúp tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ của con người.Đây là một loại nấm lớn, màu tối, vỏ ngoài nhẵn bóng và nhìn giống như một khúc gỗ. Trong tiếng Latin thì lucidus có nghĩa là «sáng bóng » hay «rực rỡ » và điều này cũng tương thích với hình dáng bên ngoài của nấm Linh chi. Nấm được phân bố rộng rãi ở các nước Á Đông và thường mọc trên các thân cây khô hoặc đã chết.
Những loại nấm Linh chi được sử dụng rộng rãi trong y học gồm: G. atrum Zhao, Xu and Zhang, G. tenue Zhao,Xu and Zhang,and G.sinense Zhao, Xu and Zhang. Ở mỗi nơi nấm Linh chi được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Reishi (Nhật Bản), Lingzhi (Trung Quốc), Yeongji (Hàn Quốc) và Ling-Chih (Đài Loan).Ngoài ra còn một số tên gọi khác như nấm vạn niên (Nhật bản) hay nấm trường sinh (Trung Quốc).
Theo 2 cuốc sách rất nổi tiếng mô tả về các loại dược thảo của Trung Quốc, “Shen Nong Ben Cao Jing” (25- 220 trước Công nguyên, thuộc triều đại Đông Hán) và “Ben Cao Gang Mil” của Li Shi Zhen (1590 trước Công nguyên, thuộc triều đại nhà Minh), có 6 chủng nấm được biết đến tại thời điểm lúc bấy giờ. Trong đó có hơn 250 loại nấm linh chi được đề cập.Tuy nhiên, trong các văn bản cổ chỉ đề cập nhiều đến khả năng chữa bệnh của nấm Linh chi đỏ. Theo Wachtel-Galor et al. (2011) trong nấm Linh chi tươi, nước là thành phần chủ yếu chiếm 90% khối lượng.
Trong 10% còn lại thì protein chiếm 10- 40%, chất béo chiếm từ 2- 8%, carbonhydrate chiếm 3- 28%, chất xơ chiếm 3- 32%, hàm lượng tro chiếm 8- 10% cùng một số loại vitamin và khoáng chất khác như kali, can-xi, phốt pho, ma-giê, selen, sắt, kẽm, trong đó đồng chiếm tỉ lệ nhiều nhất (Borchers et al. Trong một nghiên cứu về những thành phần của nấm, Mau h 5 et al. Hàm lượng của protein trong nấm Linh chi khoảng 7- 8%, thấp hơn so với nhiều loại nấm khác (Chang et al. (1996); Mau et al.Đặc biệt thành phần protein của nấm Linh chi có rất nhiều các amino acid thiết yếu nhất là lysine và leucine.
Hàm lượng chất béo tổng thấp nhưng chứa nhiều acid béo không bão hòa nhiều nối đôi, đây là các hợp chất rất có lợi cho sức khỏe của con người. Ngoài ra trong nấm còn chứa các glycoprotein và các polysaccharide. Bên cạnh đó, nấm Linh chi có chứa rất nhiều những phân tử có hoạt tính sinh học như các terpenoid, các steroid, các phenol, các nucleotide và những dẫn xuất của chúng. Hoạt tính sinh học của nấm Linh chi có được chủ yếu là do các polysaccharide, peptidoglycan và các triterpene mang lại (Boh et al.
(2007) ; Zhou et al. Về mặt định lượng, trong một thí nghiệm, Chan et al. (2008) đã phân tích thành phần của 11 mẫu nấm Linh chi thương mại (được mua tại Hồng Kông) và nhận thấy có sự khác biệt về hàm lượng các triterpene cũng như các polysaccharide giữa các mẫu, trong đó các triterpen dao động trong khoảng từ 0- 7,8% và các polysaccharide thay đổi từ 1,1- 5,8%. Theo các tác giả này, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về hàm lượng của hai nhóm hoạt chất này, một trong những nguyên nhân chính là sự khác biệt về giống loài, ngoài ra điều kiện môi trường trong quá trình nấm phát triển cũng ảnh hưởng khá lớn đến thành phần hoạt chất của nấm.
Địa điểm sinh trưởng của nấm Linh chi cũng được xem là yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng của các hoạt chất sinh học có trong nấm Linh chi. Trong một nghiên cứu về hoạt tính sinh học của 11 mẫu sản phẩm nấm Linh chi được trồng ở Nhật Bản, người ta nhận thấy sự chênh lệch về hàm lượng triterpenoid giữa các mẫu dao động trong khoảng từ 0-7,8% và hàm lượng các polysaccharide dao động trong khoảng từ 1,1-5,8% (Lu et al. Sự khác nhau về hàm lượng của các hoạt tính sinh học trong các sản phẩm thương mại cũng chịu ảnh hưởng bởi quá trình chế biến hoặc chiết xuất, qua đó cho thấy chiết xuất bằng nước sẽ cho hàm lượng triterpenoid ít hơn khi chiết xuất bằng ethanol (Lu et al.Bên cạnh đó, điều h 6 kiện sinh trưởng cũng ảnh hưởng đến hàm lượng của các hoạt chất sinh học có trong nấm Linh chi (Lu et al.