Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Quang Hoan, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân tộc Tày là tộc người thiểu số có dân số đông nhất tại Việt Nam sau người Kinh, phân bố tập trung tại các tỉnh vùng Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào người Tày tại các tỉnh biên giới – nơi có sự giao lưu văn hóa sớm và mạnh mẽ. Trong khi đó, nhóm cư dân Tày tại huyện Nà Hang (tỉnh Tuyên Quang) thuộc vùng thung lũng núi cao, được xem là nhóm Tày cổ, có đặc điểm văn hóa và nghi lễ truyền thống chậm biến đổi hơn.
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và đặc biệt là tác động của công trình Thủy điện Tuyên Quang, các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày ở Nà Hang đã và đang có những biến chuyển rõ rệt. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về toàn bộ hệ thống nghi lễ chu kỳ đời người của cộng đồng người Tày tại huyện Nà Hang dưới góc độ chuyên ngành Nhân học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu đời sống văn hóa của người Tày ở huyện Nà Hang thông qua các nghi lễ trong chu kỳ đời người (sinh đẻ, hôn nhân, tang ma); từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp phục vụ công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tộc người trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan tới nghi lễ trong chu kỳ đời người (quan niệm và thực hành nghi lễ gồm sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) của người Tày ở huyện Nà Hang trong truyền thống (trước năm 1986);
- Làm rõ những biến đổi trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày ở huyện Nà Hang hiện nay và phân tích các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó;
- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phù hợp trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tại huyện Nà Hang.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba nhóm nghi lễ chính: nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ hôn nhân và nghi lễ tang ma từ truyền thống đến biến đổi.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn truyền thống được xác định từ trước năm 1986; giai đoạn biến đổi được xác định từ thời kỳ Đổi mới (1986) đến thời điểm nghiên cứu (2019), chú trọng mốc xây dựng công trình Thủy điện Tuyên Quang (khởi công từ năm 2002).
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang, tập trung vào 6 điểm khảo sát đại diện: Thị trấn Nà Hang và 5 xã gồm Sinh Long, Thượng Giáp, Côn Lôn, Hồng Thái, Khau Tinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước liên quan đến đề tài
Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước theo các nhóm chủ đề:
- Các nghiên cứu của học giả nước ngoài: Sử sách cổ Trung Quốc ghi chép về nhóm Choang - Đồng; các công trình đầu thế kỷ XX của H. Danes (Vân Nam – cái chốt giữa Ấn Độ và sông Dương Tử), V. Eichstedt (Tính năng động chủng tộc ở Đông Á và từ Vân Nam đến Thái Lan), Paul K. (Thái - Kađai và Indonexia, một cách phân loại mới ở Đông Nam Á); các nghiên cứu của dân tộc học Xô Viết như IU. Kriucov (1965, 1972) đề cập đến người Tày trong bối cảnh Đông Nam Á.
- Nghiên cứu tổng hợp về người Tày ở Việt Nam: Công trình của Viện Dân tộc học (1978), Bế Viết Đẳng chủ biên (Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, 1992), Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (Văn hóa Tày – Nùng), Hoàng Hoa Toàn và Nguyễn Chí Huyên chủ biên (2000).
- Nghiên cứu về ngôn ngữ: Các bài viết của Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Thiện Giáp; công trình của Nông Quốc Chấn (1960), Ma Thế Dân (1969), Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo - Hoàng Chí (1971, 1974), Phương Bằng (1985), Triều Ân và Hoàng Quyết (1996), Đặng Thanh Phương (1979).
- Nghiên cứu văn hóa dân gian, diễn xướng, tôn giáo và tín ngưỡng: Hoàng Quyết và cs (1993), Lục Văn Pảo (1994, 1996), Triều Ân (1994, 2000), Hoàng Văn Páo (2003), Nguyễn Huy Hồng (2003), Nông Thị Nhình (2004), Nguyễn Thị Yên (2003, 2009, 2010), Vi Hồng (2001), Hoàng Hạc (1994, 2004), Khổng Diễn (2000), Lê Thị Hường (2006), Đặng Thanh Phương (2007), Nguyễn Thị Thanh Nga (2010), Bùi Xuân Đính (nghiên cứu vùng Đông Bắc), Vũ Phương Nga (2017).
- Nghiên cứu trực tiếp về nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày và các tộc người lân cận: Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968), Bế Viết Đẳng và cs (1982), Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (1984), Đỗ Thúy Bình (1994), Hoàng Quyết (1995), Hoàng Tuấn Nam (1999), Nguyễn Thị Ngân (2002), Hoàng Lương (2005), Nguyễn Thị Yên - Vương Hùng - Nông Vĩnh Tuân (Quyển Đẳm, 2008), La Công Ý (2010), Nguyễn Ngọc Thanh và cs (Người Tày ở Tuyên Quang, 2016), cùng các nghiên cứu nghi lễ vòng đời của Lý Hành Sơn (2003), Nguyễn Thị Song Hà (2011), Lê Hải Đăng (2013), Nguyễn Văn Thắng (2015), Nguyễn Thị Thu Hà (2016).
Khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu về người Tày trước đây triển khai tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, hoặc khảo sát diện rộng toàn tỉnh Tuyên Quang. Chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ Nhân học về toàn bộ chu trình nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) tại một địa bàn cụ thể có tính chất khép kín và bảo lưu nhiều nét cổ truyền như huyện Nà Hang. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc cung cấp bức tranh tư liệu điền dã thực chứng, làm rõ sự tương tác giữa bảo lưu truyền thống và biến đổi văn hóa dưới tác động của Đổi mới và công trình Thủy điện Tuyên Quang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết về Nghi lễ chuyển đổi (Rites of passage): Được Arnold van Gennep khởi xướng năm 1909 và Victor Turner phát triển năm 1960. Khung lý thuyết này phân tích cấu trúc nghi lễ qua 3 giai đoạn: Cách ly (Tiền ngưỡng), Chuyển tiếp (Ngưỡng / Liminality, gắn với trạng thái communitas), và Tái hợp (Hậu ngưỡng), giúp giải thích sự chuyển dịch vị thế xã hội và tâm linh của cá nhân qua từng mốc vòng đời.
- Lý thuyết về Bản sắc văn hóa tộc người: Khởi xướng bởi Franz Boas, tập trung nhận diện các giá trị, biểu tượng, tập quán mang tính đặc thù giúp định danh và phân biệt tộc người Tày tại Nà Hang với các nhóm Tày khác và các tộc người cùng cư trú (Dao, H'mông, Kinh).
- Lý thuyết về Biến đổi và tiếp biến văn hóa (Acculturation): Xuất phát từ nhân học Anglo-Saxon, dùng để luận giải cơ chế tiếp xúc văn hóa giữa người Tày với người Kinh, quá trình di dân tái định cư lòng hồ thủy điện và những thay đổi trong nhận thức, hành vi nghi lễ.
- Hệ thống khái niệm công cụ: Nghi lễ, Nghi lễ chu kỳ đời người, Sinh đẻ, Hôn nhân, Tang ma, Phong tục, Tập quán, Truyền thống (trước 1986), Biến đổi (sau 1986).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp chuyên ngành Nhân học/Dân tộc học:
- Thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa sách, tạp chí, báo cáo hành chính, số liệu thống kê địa phương.
- Phương pháp điền dã Dân tộc học/Nhân học (tiến hành từ năm 2015 đến năm 2018):
- Quan sát và quan sát tham dự tại các nghi lễ thực tế.
- Phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: già làng, người cao tuổi am hiểu phong tục, thầy Tào, thầy Pụt, người làm mai mối, cán bộ địa phương, phụ nữ và thanh niên.
- Thảo luận nhóm tập trung đánh giá biến đổi văn hóa.
- Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình tư liệu điền dã.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học đầu ngành.
- Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại (trước và sau năm 1986) và so sánh đồng đại (người Tày Nà Hang với người Tày ở các địa phương khác).
Nguồn dữ liệu và địa bàn khảo sát
Điền dã được tiến hành tại 6 xã/thị trấn thuộc huyện Nà Hang:
- Thị trấn Nà Hang: Khảo sát 3 tổ dân phố (Tổ 2, Tổ 3, Tổ Khuôn Phươn).
- Xã Sinh Long: Khảo sát 3 thôn (Trung Phàn, Nà Tấu, Nặm Đường).
- Xã Thượng Giáp: Khảo sát 3 thôn (Bản Muông, Bản Vịt, Năm Cằn).
- Xã Côn Lôn: Khảo sát 3 thôn (Nà Ngoãng, Nà Thưa, Pom Pán).
- Xã Hồng Thái: Khảo sát 3 thôn (Nà Mụ, Khuổi Phẩy, Pắc Khoang).
- Xã Khau Tinh: Khảo sát 3 thôn (Nà Lũng, Khau Phiêng, Khau Tinh).
Dữ liệu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tổng hợp trong bảng mẫu khách thể nghiên cứu:
| TT |
Đối tượng nghiên cứu |
Số lượng |
| 1.1 |
Cán bộ lãnh đạo thị trấn/xã |
6 |
| 1.2 |
Cán bộ lãnh đạo thôn và tổ dân phố |
36 |
| 1.3 |
Người dân là dân tộc Tày ở thị trấn và xã |
54 |
| 1.4 |
Thầy mo / thầy cúng |
6 |
| Tổng |
Tổng số khách thể khảo sát trực tiếp |
102 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 1 trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập khung lý thuyết tiếp cận, hệ thống khái niệm công cụ và phác họa bức tranh tổng thể về địa bàn khảo sát:
- Điều kiện tự nhiên: Nà Hang có diện tích 1.471,7 km², địa hình núi cao chia cắt mạnh bởi hệ thống sông Gâm, sông Năng, suối Khuổi Trang, Bắc Vãng; khí hậu phân hóa theo độ cao (trên và dưới 800m). Từ năm 2002, công trình Thủy điện Tuyên Quang tạo nên vùng lòng hồ lớn, thay đổi điều kiện giao thông và kinh tế.
- Đặc điểm dân cư: Dân số huyện đạt 54.000 người (mật độ 45 người/km²; số liệu sau khi tách huyện Lâm Bình năm 2011). Dân tộc Tày chiếm đa số (55,18%), tiếp theo là người Dao (25,72%), người Kinh (10,11%) và người H'mông (7,52%).
- Kinh tế - xã hội: Người Tày cư trú ven sông suối, thung lũng; kinh tế truyền thống canh tác lúa nước kết hợp nương rẫy, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và nghề thủ công dệt nhuộm vải chàm. Đơn vị cư trú là bản (xưa 10-12 nóc nhà, nay khoảng 100 nóc nhà). Cấu trúc gia đình là gia đình nhỏ phụ hệ.
- Đời sống văn hóa: Nhà ở truyền thống là nhà sàn (lườn); trang phục chàm tối giản; ẩm thực có xôi nếp, thịt lợn quay, khâu nhục; văn nghệ dân gian phong phú với hát Then, hát Cọi, hát Lượn, đàn Tính và hội Lồng tồng đầu xuân.
Chương 2: Nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con
Chương 2 mô tả hệ thống quan niệm và các thực hành nghi lễ liên quan đến đứa trẻ và người mẹ:
- Quan niệm về con cái: Người Tày coi trọng việc duy trì nòi giống theo chế độ phụ hệ, mang tư tưởng "con đàn cháu đống", "giàu con hơn giàu của". Con cái là nguồn lao động và chỗ dựa lúc tuổi già. Phụ nữ không có con bị xã hội nhìn nhận khắt khe ("Không có con thì thua / Không có chồng thì hèn", "Ngựa không cương, trống không dùi").
- Cơ sở tín ngưỡng - Tục thờ Mẹ Bjoóc (Mẹ Hoa / Hoa Vương thánh mẫu): Tin rằng con cái do Mẹ Hoa trên thượng giới ban phát dựa trên phúc đức gia đình; bé trai ứng với hoa vàng, bé gái ứng với hoa bạc. Khi dâu mang thai 2-3 tháng, gia đình lập bàn thờ Mẹ Bjoóc đặt sát vách cửa buồng dâu và nhờ thầy Then cúng xin bảo hộ. Trường hợp hiếm muộn phải làm lễ "bắc cầu xin hoa".
- Tục nhận con nuôi: Thường nhận con cháu ruột trong họ hàng về nuôi nhằm thắt chặt liên kết gia tộc mà không cần xem tuổi phức tạp như người Dao.
- Kiêng cữ và chăm sóc: Người mang thai kiêng ăn một số thức ăn, kiêng bước qua dây thừng trâu, kiêng đi đêm. Phụ nữ Tày bắt buộc phải sinh con tại nhà chồng, kiêng sinh con tại nhà bố mẹ đẻ hoặc nhà người khác để tránh mang lại rủi ro cho gia chủ. Trẻ sơ sinh được cúng mụ, làm lễ đặt tên và chăm sóc theo tri thức dân gian.
Chương 3: Nghi lễ hôn nhân của người Tày
Chương 3 trình bày các nguyên tắc và tiến trình thực hành hôn nhân truyền thống:
- Quan niệm và nguyên tắc: Hôn nhân là sự liên kết giữa hai dòng họ, đề cao nguyên tắc ngoại tộc hôn (cấm kết hôn cùng họ nội), một vợ một chồng.
- Trình tự nghi lễ hôn nhân truyền thống: Diễn ra qua nhiều bước chặt chẽ, kéo dài:
- Lễ dạm hỏi (dặm ngõ): Nhà trai cử người mai mối sang nhà gái đặt vấn đề tìm hiểu.
- Lễ so tuổi / báo lá số (so mệnh): Thầy Tào xem tuổi đôi nam nữ có hợp nhau không.
- Lễ ăn hỏi: Nhà trai mang lễ vật theo quy định sang nhà gái để chính thức đính ước.
- Lễ cưới chính thức: Đoàn rước dâu thực hiện các nghi thức hát đối đáp qua cổng, trải chiếu đón dâu, cô dâu bước qua ngưỡng cửa nhà chồng và thực hiện lễ cúng tổ tiên nhà trai.
- Lễ lại mặt / lại dấu chân: Vợ chồng mới cưới mang lễ vật về thăm nhà bố mẹ đẻ sau đám cưới.
Chương 4: Nghi lễ tang ma của người Tày
Chương 4 khảo cứu quan niệm tâm linh và quy trình tiễn đưa người qua đời:
- Quan niệm về thế giới và linh hồn: Người Tày quan niệm thế giới ba tầng; con người có phần xác và phần hồn (khoăn, phi). Khi chết, thể xác mất đi nhưng linh hồn tiếp tục tồn tại ở thế giới bên kia và phù hộ con cháu.
- Phân loại tang ma:
- Chết lành / chết già (tai đi, tai tháu): Người chết tại nhà do tuổi cao hoặc bệnh tật thông thường, được tổ chức tang lễ trang trọng đầy đủ nghi thức tại nhà.
- Chết dữ / bất đắc kỳ tử (tai hại): Chết do tai nạn sông nước, hổ vồ, cây đè, ngã núi; thi hài không được đưa vào nhà mà phải khâm liệm và cúng trừ tà ngoài rừng/bãi tha ma.
- Tiến trình nghi lễ tang ma truyền thống: Gồm tắm gội người chết, khâm liệm, báo tang, lập bàn thờ ma, mời thầy Tào hoặc thầy Then làm lễ dẫn đường đưa hồn (Quyển Đẳm), lễ phạt mộc đóng quan tài, lễ tiễn đưa ra huyệt, hạ huyệt, chôn cất, cúng cơm sau chôn và lễ đoạn tang.
Chương 5: Biến đổi của nghi lễ chu kỳ đời người và một số nhận xét
Chương 5 phân tích thực trạng biến đổi của hệ thống nghi lễ từ năm 1986 đến nay qua các bảng số liệu thực địa (Bảng 5.1, Bảng 5.2, Bảng 5.3):
- Biến đổi trong nghi lễ sinh đẻ và nuôi dạy con: Giảm bớt các hủ tục kiêng cữ khắt khe; phụ nữ mang thai đến trạm y tế khám và sinh con; nhận thức về bình đẳng giới tính con cái tăng lên; nghi lễ thờ Mẹ Bjoóc được tinh giản, chủ yếu giữ tính chất cầu an tinh thần.
- Biến đổi trong hôn nhân: Thanh niên nam nữ tự do tìm hiểu, quyền tự quyết hôn nhân được tôn trọng; tục thách cưới nặng nề bằng gia súc, rượu thịt được thay thế dần bằng tiền mặt gọn nhẹ; trang phục và phương tiện đưa đón dâu hiện đại hóa; nghi lễ rút ngắn từ nhiều ngày xuống còn 1-2 ngày.
- Biến đổi trong tang ma: Thời gian quàn người chết được rút ngắn theo quy định vệ sinh môi trường; các bài cúng dài ngày của thầy Tào được giản lược; hủ tục ăn uống linh đình kéo dài giảm dần; việc mai táng thực hiện theo quy hoạch nghĩa trang nông thôn mới.
- Nhận xét mặt tích cực và hạn chế: Phân tích sự chuyển dịch từ phong tục nặng tính hình thức, tốn kém sang nếp sống văn minh, đồng thời chỉ ra nguy cơ mai một vốn tri thức dân gian, chữ Nôm Tày và các bài diễn xướng nghi lễ truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về nghi lễ chu kỳ đời người của người Tày tại vùng núi Đông Bắc Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Nhân học.
- Vận dụng thành công các lý thuyết Nhân học (Nghi lễ chuyển đổi, Bản sắc văn hóa tộc người, Biến đổi văn hóa) để giải thích quá trình vận động, tiếp biến của phong tục tập quán trong bối cảnh tái định cư thủy điện và hiện đại hóa nông thôn.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bộ tư liệu điền dã thực chứng chi tiết, chân thực về thực hành nghi lễ sinh đẻ, hôn nhân, tang ma của người Tày cổ tại huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp chính quyền địa phương và ngành văn hóa xây dựng chính sách quản lý văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
- Làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học và Văn hóa học.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng người Tày về việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp (tính cố kết cộng đồng, đạo hiếu, truyền thống gia đình).
- Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa, nghệ nhân dân gian, người có uy tín, thầy Then, thầy Tào trong việc thực hành và trao truyền văn hóa.
- Vận động bài trừ các tập tục rườm rà, tốn kém, mê tín dị đoan trong tang ma và cưới xin, phù hợp với quy ước, hương ước xây dựng nông thôn mới.
- Gắn kết công tác bảo tồn văn hóa nghi lễ, diễn xướng dân gian Then - Cọi với phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm lòng hồ Thủy điện Tuyên Quang.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tính chất phân bố địa hình hiểm trở và dung lượng nghiên cứu, địa bàn khảo sát tập trung tại 6 xã/thị trấn đại diện của huyện Nà Hang; chưa bao quát hết sự khác biệt vi mô ở các thôn bản vùng sâu giáp ranh tỉnh Bắc Kạn và Hà Giang. Luận án chủ yếu đi sâu vào 3 nhóm nghi lễ vòng đời cốt lõi (sinh đẻ, hôn nhân, tang ma) mà chưa phân tích sâu các nghi lễ trung gian khác (lễ mừng thọ, lễ cấp sắc Then/Tào).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa nhóm Tày Nà Hang với các nhóm Tày khác tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lào Cai; đi sâu nghiên cứu sự thích ứng sinh kế và biến đổi văn hóa nghi lễ của các cộng đồng Tày tái định cư sau khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Xã hội học.
- Cán bộ quản lý văn hóa, cơ quan làm chính sách dân tộc tại tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà nhân học tôn giáo - tín ngưỡng tộc người.
- Phần nội dung đáng tham khảo:
- Khung phân tích lý thuyết Nghi lễ chuyển đổi áp dụng vào thực tế tộc người thiểu số tại Việt Nam.
- Dữ liệu mô tả thực địa chi tiết về tín ngưỡng Mẹ Bjoóc (Mẹ Hoa) trong chương 2 và cấu trúc tang ma (tai đi, tai hại, nghi lễ Quyển Đẳm) trong chương 4.
- Bộ công cụ câu hỏi phỏng vấn sâu, tiêu chí đánh giá mức độ biến đổi nghi lễ qua các giai đoạn lịch sử.
Câu hỏi thường gặp
1. Tín ngưỡng Mẹ Bjoóc (Mẹ Hoa) có vai trò như thế nào trong nghi lễ sinh đẻ của người Tày ở Nà Hang?
Theo quan niệm của người Tày, Mẹ Bjoóc ngự ở thượng giới, là người trực tiếp phân phát con cái cho các cặp vợ chồng dựa trên phúc đức tổ tiên và đạo đức của người sống (bé trai là hoa vàng, bé gái là hoa bạc). Khi người phụ nữ mang thai được 2-3 tháng, gia đình phải lập bàn thờ Mẹ Bjoóc sát vách cửa buồng dâu và mời thầy Then cúng xin bảo trợ. Nếu hiếm muộn, gia đình phải thực hiện lễ "bắc cầu xin hoa" để cầu tự.
2. Luận án đã tiến hành điền dã tại những địa bàn cụ thể nào của huyện Nà Hang?
Nghiên cứu sinh thực hiện các đợt điền dã từ năm 2015 đến năm 2018 tại 6 địa bàn: Thị trấn Nà Hang (Tổ 2, Tổ 3, Tổ Khuôn Phươn), xã Sinh Long (thôn Trung Phàn, Nà Tấu, Nặm Đường), xã Thượng Giáp (thôn Bản Muông, Bản Vịt, Năm Cằn), xã Côn Lôn (thôn Nà Ngoãng, Nà Thưa, Pom Pán), xã Hồng Thái (thôn Nà Mụ, Khuổi Phẩy, Pắc Khoang) và xã Khau Tinh (thôn Nà Lũng, Khau Phiêng, Khau Tinh).
3. Người Tày ở Nà Hang phân loại các dạng thức tang ma như thế nào?
Người Tày phân biệt rõ hai loại tang ma:
- Chết lành / chết già (tai đi, tai tháu): Chết do tuổi già hoặc ốm đau thông thường tại nhà; tang lễ được tổ chức trang trọng tại gia đình với đầy đủ các nghi thức đưa hồn về trời.
- Chết dữ / chết bất đắc kỳ tử (tai hại): Chết do tai nạn ngã cây, đá đè, nước cuốn, hổ vồ; thi hài bị cấm đưa vào nhà, phải khâm liệm và làm các thủ tục xua đuổi tà khí, chôn cất ngay ngoài bãi tha ma.
4. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến sự biến đổi trong nghi lễ vòng đời của người Tày Nà Hang sau năm 1986?
Sự biến đổi xuất phát từ tác động tổng hợp của: chính sách Đổi mới kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; việc xây dựng công trình Thủy điện Tuyên Quang làm thay đổi cảnh quan và môi trường cư trú; quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa với người Kinh và các tộc người khác; sự phát triển của hệ thống y tế, giáo dục; và việc triển khai phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới.
5. Cơ cấu mẫu khảo sát thực địa của luận án gồm những thành phần nào?
Mẫu khảo sát trực tiếp của luận án gồm 102 khách thể, chia thành 4 nhóm: 6 cán bộ lãnh đạo thị trấn/xã, 36 cán bộ lãnh đạo thôn/tổ dân phố, 54 người dân tộc Tày tại địa bàn và 6 thầy mo/thầy cúng am hiểu nghi lễ truyền thống.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa Mai là công trình khoa học chuyên khảo chuyên sâu về các nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày tại huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang dưới góc độ Nhân học. Tác phẩm đã tái hiện hệ thống quan niệm, biểu tượng và trình tự thực hành nghi lễ sinh đẻ, hôn nhân, tang ma truyền thống, đồng thời phân tích rõ xu hướng biến đổi của các nghi lễ này từ sau năm 1986 dưới tác động của công cuộc Đổi mới và công trình Thủy điện Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp luận cứ khoa học về mặt lý luận văn hóa tộc người mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho công tác quản lý văn hóa, bảo tồn bản sắc và xây dựng đời sống văn hóa mới tại địa phương.