Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm a) Bến/giọt nước Bến nước tiếng Ê đê là pin êa. Giọt nước tiếng Ê đê là êa nguôm. Bến/giọt nước (gọi chung là bến nước) là danh từ chung chỉ nơi cung cấp nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt có tính tập thể, công cộng.
Nó có thể là một bến sông, hồ, muội nước. Hoặc những mạch nguồn phát lộ, nguồn suối ở các vùng cao. Ở các buôn làng người dân tộc thiểu số vùng cao tại Việt Nam, bến nước là khái niệm chỉ những nơi lấy nước từ những nguồn mạch phát lộ chảy tự nhiên, cũng có thể là một muội nước trồi lên khỏi mặt đất hoặc hình thức thường thấy nhất là các mạch nước chảy ra từ một vách đất, đầu nguồn suối, cho chất lượng nước tốt, cung cấp nước ăn cho cả buôn làng (nó cũng tương tự như hình thức giếng làng tại các làng mạc vùng người Kinh nhưng giếng làng không được coi là bến nước). Để lấy nước người ta dùng các ống tre, nứa đã được chọc thông các mắt hứng từ mạch phát lộ và đưa dòng nước chảy tự nhiên ra ngoài để người dùng có thể hứng được.
Trong điều 80, điều 231, điều 232 của luật tục Ê Đê có chỉ rõ việc xung quanh bến nước luôn có hệ thống cây rừng giữ nước và được coi như rừng thiêng của buôn làng; người ta thường phạt rất nặng những ai dám chặt cây hoặc làm ô nhiễm nguồn nước [12]. b) Lễ cúng bến nước Trong “Từ điển tiếng Việt” có định nghĩa như sau: - Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Do ngày càng mở rộng 14 phạm vi nên đến đây “Lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Như vậy ta có thể đi đến một khái niệm chung, khái niệm “Lễ” được đề cập đến trong đề tài không phải là chữ “Lễ” của đạo Khổng.
“Lễ” theo tiếng việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. - Lễ cúng là là nghi thức dâng lễ vật lên thần linh để tỏ lòng cung kính hay tưởng nhớ người đã khuất, thường đi đôi với việc báo tin hay kỷ niệm một sự kiện đặc biệt nào đó liên quan đến cõi vô hình. - Lễ cúng bến nước được đề cập trong luận văn này là lễ cúng bến nước của bà con sống ở khu vực Tây Nguyên. Lễ cúng bến nước này là hoạt động được các buôn làng tổ chức hàng năm tại các bến nước với mục đích cảm ơn các vị thần đã cứu giúp, tạo dựng cho họ có được cuộc sống no đủ, bên cạnh đó cầu xin nguồn nước luôn trong mát, đừng bao giờ cạn kiệt, đừng bị ô nhiễm, cầu mưa thuận gió hòa, để các vị thần nước, thần núi, thần sông… biết được nơi đó có dân làng sinh sống mà ban sức khỏe, làm ăn khấm khá, hơn thế nữa bà con trong buôn làng luôn yêu thương nhau, sống thủy chung, trước sau như một.
c) Bảo tồn Theo từ điển tiếng Việt tại trang 39, “Bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó, bảo tồn là không để mai một không để thay đổi, biến hóa” [13]. Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm chi tiết, “Bảo tồn chính là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm xuống cấp của kết cấu đó. Đề cập đến vấn đề này, Ngô Đức Thịnh quan niệm, “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp vốn có (truyền thống) của mỗi dân tộc, quốc gia.
15 Như vậy, khi con người hiểu được những tác động trong cuộc sống, sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình tồn tại của các giá trị văn hóa, thì họ đã nghĩ đến việc bảo tồn. Do đó, trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn di sản văn hóa xuất hiện, ngay từ khi con người ý thức được giá trị của di sản văn hóa trong đời sống. Đồng thời, hiểu được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con người gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm các biện pháp bảo tồn. Công tác bảo tồn di sản văn hóa có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, quy hoạch bảo tồn.
Tuy nhiên, cần phải hiểu bảo tồn di sản văn hóa là việc bảo vệ, giữ gìn những giá trị liên quan từ quá khứ đến hiện tại làm cho di sản văn hóa giàu có hơn và tất yếu cái được bảo tồn phải phù hợp với thời đại. Đây là xu hướng để các di sản văn hóa có thể tiếp tục song hành, cùng xu hướng đi lên của cuộc sống. Bảo tồn, chính là những nỗ lực nhằm đảm bảo sự an toàn, phát triển qua việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục, tôn tạo, quảng bá và phát triển nhằm phục vụ các hoạt động tiến bộ của con người trong xã hội. Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị DSVH vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện: - Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi.
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài) trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động. Bảo tồn nguyên vẹn Bảo tồn nguyên vẹn hay còn gọi là bảo tồn trong dạng “tĩnh”. Trong đó, chủ yếu là vận dụng kỹ thuật để đảm bảo giữ nguyên trạng thái hiện vật như sự vật vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng đối với di sản vật 16 thể. Đối với văn hóa phi vật thể, bảo tồn ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó vốn có, lưu giữ chúng ở dạng bản ghi chép hoặc mô tả bằng băng hình, bằng băng đĩa hoặc các dạng khác để có thể lưu giữ được lâu nhất… Bảo tồn trên cơ sở kế thừa Bảo tồn trên cơ sở kế thừa hay bảo tồn ở dạng “động” tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa vốn cổ giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể.
Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng, giữ gìn, bảo vệ vốn cổ đồng thời làm giàu và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong quá trình phát triển. Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời sống xã hội theo thời gian. Hiện nay, công tác bảo tồn thường được lựa chọn trên cơ sở bảo tồn kế thừa. Vì hiện nay ngoài việc bảo tồn còn tùy thuộc vào nguyện vọng được lưu giữ bảo tồn lại của chủ thể văn hóa đó.
d) Phát huy Từ điển Tiếng Việt trang 768 cắt nghĩa: “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [16]. Còn theo từ điển từ và ngữ Việt Nam trang 803 thì “phát huy là làm cho tác dụng lan rộng ra hoặc phát triển lên”. Như vậy có thể hiểu rằng, phát huy chính là việc làm cho cái hay, cái đẹp tiếp tục phát triển một cách có hiệu quả. Ngoài ra theo tác giả, phát huy thường gắn với giá trị truyền thống, hoặc các di sản vật thể, phi vật thể như bản sắc văn hóa dân tộc… Khái niệm phát huy gắn với phục hồi, xây dựng mới hoặc bảo tồn trên nền tảng cái cũ.
Mục đích của phát huy nhằm phục vụ cho sự tiến bộ 17 của xã hội, cho việc bảo tồn và phát huy phục vụ du lịch, góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. e) Giá trị và giá trị văn hóa Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về giá trị, Hồ Sĩ Quý, cho rằng: “Giá trị là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học dùng để chỉ ý nghĩa văn hóa và xã hội của các hiện tượng. Về thực chất, toàn bộ sự đa dạng của hoạt động người, của các quan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiên có liên quan, có thể được thể hiện là các "giá trị khách quan" với tính cách là khách thể của quan hệ giá trị, nghĩa là, được đánh giá trong khuôn thước của thiện và ác, chân lý và sai lầm, đẹp và xấu, được phép và cấm kỵ, chính nghĩa và phi nghĩa, v. Theo Trần Ngọc Thêm “khái niệm văn hoá kéo theo khái niệm giá trị, tính giá trị.
Không phải mọi cái do con người sáng tạo ra đều là văn hoá, mà chỉ có những gì có giá trị mới thuộc về văn hoá. Trong từ văn hoá thì, trong truyền thống phương Đông, văn là khái niệm đối lập với võ, văn có nghĩa là vẻ đẹp, là giá trị; văn hoá có nghĩa là trở thành đẹp, thành có giá trị. Văn hoá chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người”.
Ngô Đức Thịnh, cho rằng “Giá trị văn hóa (cultural value) là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sữ của cộng động, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện,mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất NGƯỜI.