Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THIỀN PHÁI LÂM TẾ GIA PHỔ VÀ NGHI LỄ PHẬT GIÁO 1. Khái quát chung về Thiền phái Lâm Tế Gia Phổ 1. Lịch sử hình thành Theo lịch sử Thiền tông ghi nhận, sau thời Lục Tổ Huệ Năng, Thiền tông phát triển mạnh tại Trung Hoa và nhanh chóng lan rộng sang Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Là một thiền phái Trung Quốc, thiền tông Lâm tế phát nguyên từ thời nhà Đường (618 - 907) và hưng thịnh vào thời nhà Tống (960 - 1279), sau đó phát tích sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
và phát triển cho đến ngày nay là một trong năm tông phái chính của thiền tông Trung Hoa: Quy Nhưỡng, Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn. Về tổ Lâm Tế là thiền sư Nghĩa Huyền: “Tổ Lâm Tế (787 - 867) là truyền nhân thiền tông thuộc hệ phái Nam Nhạc Hoài Nhượng, nếu tính từ thời Phật Thích Ca trở xuống, thì tổ Lâm Tế thuộc hàng thứ 38, tính từ sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thì được 11 đời, tính từ hệ phái Nam Nhạc thì được 5 đời và ngài là người đầu tiên sáng lập nên Tông Lâm Tế”. Ra đời trong bối cảnh Phật giáo Trung Quốc đang bị đàn áp, thiền Lâm Tế thể hiện phương pháp, thủ thuật mạnh mẽ như hét, đánh song song với ôn hòa, tạo nên một phương pháp độc đáo trong tu tập để đạt đến giác ngộ. Đây được coi là một đặc điểm nổi bật của dòng thiền này: “Môn phong này cao vút, tiếp dẫn người học bằng phương pháp đánh và hét rất mạnh mẽ, thẳng thắn, chiếu dụng đều thực hành.
Con cháu tông Lâm Tế rất đông đúc, đến thời Bắc Tống lại phân ra làm hai phái là Hoàng Long và Dương Kỳ, pháp mạch kéo dài mãi cho tới ngày nay” (Thích Trúc Thông Quảng, 2016, tr. Tổ Lâm Tế truyền thừa cho đệ tử, các thế hệ đệ tử đời sau nối mạch truyền thừa và 13 đưa Lâm Tế ngày càng phát triển rộng mở. Có những giai đoạn khó khăn nhưng pháp mạch truyền thừa vẫn được duy trì, phát triển. Đến thời đời thứ 30 Mật Vân Viên Ngộ (1566 - 1642), dòng thiền Lâm Tế chia làm hai nhánh: một nhánh sau này truyền sang Việt Nam, một nhánh sau này truyền sang Nhật Bản.
Khi sang Việt Nam, Thiền phái Lâm tế chia làm hai nhánh, một nhánh ở Đàng Ngoài và một nhánh ở Đàng Trong. Nhánh Đàng Ngoài xuất phát nguồn gốc từ nhánh Lâm Dã Kỳ đời 31, Nhị Ẩn Mật đời 32, Đời thứ 33 (Khuyết tên), Trạng Nguyên Tăng Đà Đà đời thứ 34, Thanh Chương Hải Trừng Viên Văn Chuyết Công đời thứ 35. Đàng Trong xuất phát từ nhánh của Mộc Trần Đạo Mân (1596 -1674) đời thứ 31, Khoáng Viên Bổn Quả đời thứ 32, Siêu Bạch Thọ Tông (1648 - 1728) đời thứ 33. Thời thứ 33, thiền sư Chuyết Chuyết đưa Lâm Tế truyền đến Đàng Ngoài và thiền sư Nguyên Thiều đưa Lâm Tế đến Đàng Trong đã làm rạng rỡ thiền Lâm Tế ở hai miền.
Về lịch sử Lâm Tế Đàng Trong gắn với quá trình khai mở của thiền sư Nguyên Thiều: Thiền sư Mộc Trần - Đạo Mân truyền pháp đời thứ 31 Thiền phái Lâm Tế, ở chùa Thiên Khai, Quảng Ðông, Trung Quốc. Thiền sư Mộc Trần - Đạo Mân, đắc pháp với Thiền sư Mật Vân - Viên Ngộ nên có pháp danh Thông Thiên - Hoằng Giác thuộc thế hệ thứ 10 Pháp phái Thiên Đồng. Về sau, Thiền sư Mộc Trần - Đạo Mân ra khai sơn chùa Thiên Khai. Hòa thượng Bổn Kiểu Khoáng Viên đời thứ 32, là đệ tử của Thiền sư Viên Thông Đạo Mân - Mộc Trần.
Đến đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 -1687), năm 1677 Thiền sư Nguyên Thiều2, theo thuyền buôn cùng một số đệ tử đến phủ Quy Ninh (Quy Nhơn) hành đạo. Ngài xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà (1678-1683), ngày khánh thành vua Lê Hy Tông ban bảng vàng sắc tứ “Thập tháp Di Đà Tự”. Sau một thời gian hành đạo, vì nhiều nguyên nhân trong đó có sự tác động của sự kiện năm 1682, tổ sư Hương Hải dẫn khoảng 50 đệ tử bỏ Đàng 2 Thọ Tôn (húy Siêu Bạch - Hoán Bích), sinh năm Mậu Tý (1648), xuất gia năm 19 tuổi (1666), đệ tử Bổn Kiểu-Khoáng Viên, khai sơn chùa Báo Tư Trung Quốc. 14 Trong ra Đàng Ngoài, khiến cho Chúa Nguyễn Phước Tần hoài nghi thái độ chính trị của các thiền sư thuộc phái Thiền Trúc Lâm.
Lại thêm lý do Đàng Trong là vùng đất mới nên còn thiếu nhiều tăng sĩ Phật giáo. Chính vì vậy, chúa Nguyễn Phước Tần điều thiền sư Nguyên Thiều ra vùng Thuận Hóa thay thế thiền sư Hương Hải hoằng dương Phật pháp. Tổ Nguyên Thiều đến vùng Thuận Hóa, lập chùa Phổ Thành ở Hà Trung. Sau đó, Tổ vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Thái thỉnh một số pháp khí và thỉnh một số chư Tăng Trung Hoa sang hành đạo.
Tổ Nguyên Thiều trở về Trung Quốc khoảng trong các năm (1687 - 1691), thời Chúa Nghĩa cai trị Đàng Trong, tổ sư đã mời được một số cao tăng qua Đàng Trong, “Tổ sư Nguyên Thiều đã hoàn thành sứ mạng tốt đẹp, “lập được nhiều công tích” (công đức) như Bia “Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp Ký Minh” đã viết” (Nguyễn Hiền Đức 1995, tr. Ngay sau khi trở lại Phú Xuân từ Trung Quốc, tổ sư Nguyên Thiều đã được Chúa Nguyễn hỗ trợ, mở Đại giới đàn truyền giới, khi đó ở Đàng Trong hầu hết các tăng sĩ đều thuộc phái thiền Lâm Tế. Nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, phái thiền Lâm Tế phát triển mạnh ở Đàng Trong. Tổ Nguyên Thiều trùng tu chùa Vĩnh Ân, sau đổi tên thành chùa Quốc Ân ở Phú Xuân (Thành phố Huế).
Do những biến động về chính trị Nam Bộ dẫn đến sự trọng dụng của Chúa Nguyễn Phước Châu đối với các thiền sư phái Tào Động ở Đàng Trong từ năm 1692, đến năm 1694 - 1695, thiền sư Nguyên Thiều rời Hà Trung vào Đồng Nai ẩn tu, lập chùa Kim Cang để hoằng hóa Phật pháp. Nhờ đó mà Phật giáo bắt đầu phát triển ở khu vực Đồng Nai, Gia Định, từ đó lan rộng khắp Nam Bộ. Ở Đồng Nai, tổ sư Nguyên Thiều đã thu nạp, hóa độ rất nhiều đệ tử nổi danh như thiền sư Thành Chí - Pháp Thông (1691 - 1749), sau thời gian tu 15 học ở chùa Kim Cang đã đến núi Bửu Long trùng tu chùa Bửu Phong và hoằng hóa ở chùa Hoàng Long, Hưng Long. Phật giáo vùng Đồng Nai phát triển rực rỡ, chỉ riêng một khúc sông Đồng Nai hơn 10km từ Cù Lao Phố đến Bình Thảo, ở hai bên bờ sông đã có đến 4 ngôi chùa lớn của tổ sư Nguyên Thiều và các đệ tử: Chùa Đại Giác, chùa Long Thiền, chùa Bửu Phong, chùa Kim Cang.
Năm 1725, Chúa Nguyễn Phước Chu mất, Chúa Nguyễn Phước Chú lên ngôi, không còn hà khắc với phái Lâm Tế, tạo điều kiện cho tổ sư Nguyên Thiều và các đệ tử mở rộng phạm vi hoằng pháp, từ Đồng Nai lan tỏa khắp vùng lục tỉnh Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh gồm 6 tỉnh: Dinh Trấn Biên - Biên Hòa, Dinh Phiên Trấn - Gia Định, Chợ Lớn, Dinh Trường Đồn - Long An, Dinh Long Hồ -Vĩnh Long, An Giang và Trấn Hà Tiên). Cụ thể như sau: Phật Ý - Linh Nhạc khai sơn chùa Từ Ân và Khải Tường ở Gia Định có các đệ tử trụ trì các chùa: Giác Lâm, Long Thạnh (Gia Định). Phật Chiếu - Linh Quang khai sơn chùa Phước Tường (Thủ Đức). Phật Chí - Đức Hạnh khai sơn chùa Long Nhiễu (Thủ Đức).
Thiệt Thoại - Tánh Tường khai sơn chùa Hoa Nghiêm (Thủ Đức) Thiệt Thành - Liễu Đạt trụ trì chùa Khải Tường và Từ Ân (Gia Định), thêm chùa Thiên Mụ. Phật Tỉnh - Từ Nghiêm trụ trì chùa Hưng Long. Đệ tử của thiền sư Phật Tỉnh - Từ Nghiêm là Tổ Trí – Khánh Hưng trụ trì chùa Hội Tôn (Bến Tre) và chùa Đức Lâm (Định Tường), tiếp nối đệ tử của thiền sư Tổ Trí - Khánh Hưng mở rộng phạm vi hoằng hóa khắp miền Tây Nam Kỳ (Định Tường - Vĩnh Long). Khi hoằng đạo vùng Nam Bộ, Tổ Nguyên Thiều truyền thừa phú pháp theo hai dòng: Dòng Tổ Đạo Giới Định Tông và dòng Đạo Bổn Nguyên.
Sau hơn 80 16 năm hành đạo, ngày 19/10 năm Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (20/11/1728) Ngài lâm bệnh nhẹ. Ngài gọi các đệ tử dặn dò và để lại bài kệ di chúc: “Tịch tịch cảnh vô ảnh Minh minh châu bất dung, Đường đường vật phi vật Liêu liêu không vật không” (Lẳng lặng gương không ảnh Sáng sáng ngọc không hình Rõ ràng vật không vật Vắng lặng không chẳng không) (Nguyễn Hiền Đức, 1995, tr. Sau đó Ngài an nhiên thiền định mà viên tịch, thọ 81 tuổi. Các hàng đệ tử môn đồ xây thánh Tổ thờ tại chùa Quốc Ân và Phổ Thành - Hà Trung - Phổ Đồng Thuận Hóa (Huế) và chùa Kim Cang - Đồng Nai.
Năm Kỷ Dậu, hiệu Bảo Thái thứ 10 (1729), chúa Nguyễn Phúc Chú (1725-1738) ban tặng thụy hiệu “Thiền sư Hạnh Đoan”, Sắc tứ Hà Trung Tự Hoán Bích bi kỷ và bài minh khắc vào bia tháp phụng thờ (Thích Đức Trường, 2022). Các đệ tử của Ngài tiếp tục con đường truyền bá chính pháp, duy trì dòng mạch Lâm Tế Gia Phổ phát triển ở các tỉnh miền Nam. Bài kệ truyền thừa và pháp hệ truyền thừa của thiền phái Lâm Tế Gia Phổ Đời 29 của thiền phái Lâm Tế ở Trung Quốc là thiền sư Chánh Truyền - Huyễn Hữu ở núi Long Trì có hai đệ tử nổi danh là Viên Ngộ Mật Vân và Viên Tu - Thiên Ấn. Đệ tử của hai vị thiền sư này đã chấn hưng thiền tông Lâm Tế ở Trung Quốc và mở rộng phạm vi hoằng pháp sang Việt Nam và Nhật Bản.
Trong số đó có thiền sư Đạo Mân - Mộc Trần đã phát xuất ra một bài kệ truyền mới mà sau này được truyền rộng rãi ở Đàng Trong Việt Nam. 17 Tổ Đạo Mân - Mộc Trần (Thông Thiên - Hoằng Giác) đời thứ 31 thiền phái Lâm Tế truyền thừa như sau: 道本源成佛祖先 Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên 明如红日麗中天 Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên 靈源廣潤慈風普 Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ 照世真燈萬古傳 Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Truyền. Từ Tổ Đạo Mân – Mộc Trần truyền xuống: Đời 32: Bổn Quả - Khoáng Viên Đời 33: Nguyên Thiều – Hoán Bích Theo các tác giả Phan Trương Quốc Trung và Nguyễn Hữu Sủ (2017), Sư Khoáng Viên khá nổi tiếng vào thời đầu Thanh. Sư không những tinh thông Phật điển mà kiêm cả Nho, Đạo và thơ văn, được nhiều bậc trí thức, học giả, văn nhân, đạo, tục ngưỡng mộ.