mở đầu cho thiên anh hùng ca dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc ta, đồng thời đây cũng là chứng tích về sự tụ cƣ của cƣ dân Việt từ buổi đầu công nguyên mà sau này các điểm dân cƣ còn lan toả xuống các vùng đất rộng lớn của các huyện Thiệu Hoá, Yên Định, Đông Sơn. Những dấu tích của các nền văn hoá cổ xƣa ở đây và các vùng đất bao quanh vùng đất Xuân Quang đã chứng tỏ những tâm điểm cƣ trú của ngƣời cổ là những cƣ dân đầu tiên sinh sống trên lãnh thổ này đã dùng vùng đồng bằng trung du để làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng và ven biển rộng lớn. Tất cả dấu tích và quang cảnh đó chính là bằng chứng cho một nền văn hoá rực rỡ xƣa 15 kia, đồng thời nó cũng minh chứng cho tính chất mở của một vùng đất cổ có bề dày về truyền thống lịch sử và văn hoá. Khái niệm “vùng trung du”- vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi mà Xuân Quang là một trong những điểm nổi bật, mang một sắc thái riêng của một làng quê truyền thống Việt Nam.
Do vốn là một vùng đất cổ với bề dày truyền thống lịch sử lâu đời nên đời sống văn hóa – xã hội của ngƣời dân nơi đây khá phong phú và đa dạng. Xƣa kia, Xuân Quang có 07 giáp, tƣơng ứng với các giáp, mỗi giáp có một ngôi đình. Ngoài ra, còn có hai ngôi chùa là chùa Con Chan, chùa Long Hồ; một ngôi Nghè và ba khu lăng mộ của các vua triều Lê Trung Hƣng là lăng mộ vua Lê Dụ Tông [31 – tr56], lăng mộ vua Lê Hiển Tông [31 – tr162] và lăng mộ vua Lê Chiêu Thống cùng các lăng, mộ của Thái hậu, Hoàng phi, con vua, Đề lĩnh Nguyễn Viết Triệu, Nội thị Nguyễn Văn Quyên cùng đƣợc đặt cạnh lăng vua Hiển Tông [28 - tr424, 425]. Mặc dù phần lớn đã bị hủy hoại trong thời kỳ bài phong nhƣng những dấu ấn và những giá trị văn hóa truyền thống của cƣ dân Xuân Quang còn khá đậm nét, phong phú.
Trong nhiều năm trở lại đây, ngoài việc bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị của một trong 07 ngôi đình còn lại, nhân dân Xuân Quang đã phục hồi, tôn tạo lại Nghè Cao Sơn, khu lăng mộ vua Lê Hiển Tông và xây dựng đền thờ các vua, Hoàng hậu và công chúa thời Lê Trung Hƣng để phục vụ nhu cầu tín ngƣỡng của nhân dân. Cùng với đó, lễ hội đình, nghè cũng và một số trò chơi, trò diễn dân gian cũng đƣợc khôi phục lại. Các thiết chế văn hóa của thôn cũng đƣợc hình thành, gồm: Nhà văn hóa của 10 thôn, sân luyện tập, thi đấu thể thao và sân vận động. Đa số ngƣời dân đều hƣởng ứng và hăng say tham gia sinh hoạt.
Ngày nay, những di sản văn hóa của nhân dân Xuân Quang đã đƣợc quan tâm bảo tồn, phục hồi nhƣ: Đình làng Giữa, Nghè Cao Sơn, mộ vua Lê Hiển Tông, đền thờ các vua, Hoàng hậu và công chúa thời Lê Trung Hƣng. Những điểm di tích còn lại đã đƣợc UBND xã phối hợp với Phòng Văn hóa – Thông tin huyện và Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thanh Hóa tiến hành lập và đƣa vào danh mục kiểm kê nhƣ: chùa Long Hồ, chùa Con Chan, địa điểm lăng mộ vua Lê Chiêu Thống, Thái hậu, Hoàng phi, các con vua và các quan… 16 Bên cạnh những sinh hoạt tín ngƣỡng dân gian, trò chơi, trò diễn đã và đang đƣợc từng bƣớc phục hồi và duy trì sinh hoạt thƣờng xuyên còn có những di sản văn hóa khác mang giá trị lịch sử, văn hóa hiện còn đang đƣợc nhân dân nơi đây lữu giữ nhƣ: - Bia chùa Long Hồ Văn bia này trƣớc đây đặt ở hành lang bên trái chùa Long Hồ, xã Bàn Thạch, tổng Kiên Thạch, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay là Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Ngày nay, bia đã bị mất, chúng tôi tìm thấy thác bản ghi trong “Corpusdes inscriptions - Corpus op ancient Viet Namese in scruptions - Tổng tập văn bản khắc Hán Nôm" do Viện Cao học thực hành - Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp - Viện nghiên cứu Hán Nôm ấn hành, ký hiệu 01904 - 01905. Thác văn bản bia hai mặt, cao 128 cm x 68cm, trán bia mặt trƣớc trang trí đôi rồng chầu mặt trời, diềm chạy hoa văn dây leo, chân chạm bệ cánh sen.
Mặt sau trang trí đôi phƣợng chầu mặt nguyệt, diềm chạy hoa văn dây leo, chân chạm ba con kỳ lân vƣờn nhau. Nội dung văn bia và bài minh trên bia ca ngợi cảnh đẹp của vùng đất nơi chùa tọa lạc, lý do những ngƣời nơi đây hƣng công, công đức tu sửa lại chùa. Phần cuối của bia có ghi chép những ngƣời đứng ra kêu gọi công đức, niên hiệu dựng bia và ngƣời soạn văn bia nhƣ sau: - Hội chủ là Lê Quang Bật, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Điện tiền Đô hiệu Điểm ty, Tả hiệu điểm, tước Cẩm Xuyên hầu. - Hưng công là Lê Bái Sai, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Đặc tiến làm Phụ quốc Thượng tướng quân.
Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Điện tiền Đô hiệu Điểm ty, Tả hiệu Điểm tước Hoa Sơn hầu. Hội chủ là Lê Sỹ Khuể, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, tước Phú Dũng hầu. Ngày lành tháng 11 niên hiệu Đức Long năm thứ 3 (1631) triều Lê. Người soạn là Lê Hữu Độ hiệu Nhã lượng, chức Cẩn sự lang bậc dưới Tri huyện huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên”.
17 - Di tích kiến trúc nghệ thuật đình làng Giữa Đình làng Giữa còn có tên gọi khác ít phổ biến hơn là đình Cao Sơn hay đình Giáp Trung. Đình trƣớc kia đƣợc xây theo kiểu chữ đinh ( J ) gồm có Tiền đƣờng và Hậu cung. Hiện đình có kiến trúc theo kiểu chữ Nhất (一) và là di tích lịch sử, văn hoá, công trình kiến trúc điêu khắc gỗ thời Nguyễn thế kỷ XIX, niên hiệu Tự Đức năm thứ 22 (1869). Ngày 10/01/2005, đình đã đƣợc Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định số 69/QĐ-UBND công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Tỉnh.
Ngoài ra, nơi đây còn có nghè thờ thần Cao Sơn đại vƣơng và Thủy Tiên công chúa cùng hai bản thần tích bằng chữ Hán ghi chép lại thân thế, sự nghiệp, coong trạng của hai vị thần này. Hai bản thần tích có niên hiệu năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Hiện các hiện vật giá trị của nghè vẫn còn lƣu giữ đƣợc nhƣ: 03 chiếc quạt, xƣơng quạt bằng ngà voi, 2 chiếc quạt lớn, một chiếc nhỏ bằng vải thêu hình đôi chim phƣợng; hai hòm gỗ đựng Thần phả, sắc phong và 01 lƣ hƣơng bằng đồng do dòng họ Lê Văn tức họ Ca công cung tiến. - Văn hóa truyền thống Là vùng đất nằm trong các đầu mối giao thông từ Bắc vào Nam, từ miền núi xuống miền xuôi, vì vậy mà từ rất xa xƣa, Bàn Thạch - Xuân Quang là nơi có nhiều dòng họ du nhập đến đây sinh cơ lập nghiệp và mang theo cả nhiều phong tục tập quán về truyền thống văn hoá từ nơi khác đến, vì vậy nét văn hoá của vùng đất này cũng rất đa dạng và phong phú.
Tục thờ thành hoàng làng và các vị thần linh Ở Bàn Thạch - Xuân Quang có 7 giáp (bảy làng) thì cả 7 giáp đều thờ chung một vị thành hoàng là Cao Sơn đại vƣơng ở đình của mỗi làng. Đến nay rất tiếc hầu hết các ngôi đình đã bị phá huỷ từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Hiện nơi đây chỉ còn lại duy nhất một trong số 7 ngôi đình, nhƣng tục thờ thành hoàng và các vị thần linh vẫn còn in đậm trong ký ức mỗi ngƣời dân Bàn Thạch – Xuân Quang và trong dân gian. 18 Nơi thờ Thần thƣờng đƣợc gọi là Mã Nghè, nằm về phía tây Long Hồ.
Trong ký ức ngƣời dân trang La Đá - Bàn Thạch - Mã Nghè lung linh huyền ảo. Nghè tọa lạc trên yên của mảnh đất hình con ngựa, xung quanh là rừng cây và nhiều loại chim muông hoa lá. Tƣơng truyền ngay trƣớc sân đệ tam của nghè có một cây thông đã hàng nghìn năm tuổi, chu vi bằng ba bốn ngƣời ôm, cao vút trời. Ngoài ra nơi đây còn có nhiều loài cây cổ thụ nhƣ cây Vạng, Mủ quả, Chầu Chuông.
Cây Muỗm Còm già nhƣ cõng trên lƣng mình những buồn vui của bao thế hệ ngƣời Bàn Thạch. Tƣơng truyền bốn cây cột đại trụ của nghè là do bốn họ Lê Văn (tức họ Ca công), Lê Đình, Lê Huy, Lê Trọng cung tiến trong một lần trùng tu. Hàng năm vào Rằm tháng 3, nhân dân lại tổ chức lễ tế thần với nhiều nghi lễ long trọng nhƣ: đánh chiêng trống, rƣớc kiệu. đi chạ (tục Kết Chạ) giữa các làng nọ với làng kia, đánh cờ ngƣời.
diễn ra tƣng bừng trong ngày hội làng. Những di tích đình, nghè ở Bàn Thạch - Xuân Quang nói riêng và nhiều nơi khác trên quê hƣơng Việt Nam. không chỉ là nơi ghi công tƣởng nhớ với mục đích “uống nƣớc nhớ nguồn” của nhân dân Xuân Quang mà nó còn là minh chứng về sự tham gia công cuộc xây dựng, giữ gìn và bảo vệ quê hƣơng của những “chủ nhân” trên vùng đất này. Cũng nhƣ bao vùng quê khác, trên mảnh đất Xuân Quang là nơi lƣu giữ nhiều dấu tích của những di tích quý giá trong lịch sử hình thành và phát triển của mảnh đất Xuân Quang nói riêng và đất nƣớc nói chung.
Ngoài ngôi đình còn lại của làng Giữa và Nghè thờ thần Cao Sơn, Thuỷ Tiên công chúa còn lại ngày nay thì xƣa kia, trên mảnh đất Xuân Quang còn là nơi có nhiều đình, chùa. với nhiều diện mạo khác nhau nhƣng rất tiếc đã bị phá huỷ trong thời kỳ bài phong của thế kỷ trƣớc. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu hệ thống tín ngƣỡng ở Xuân Quang ở các góc độ khác nhau, qua đó để đánh giá đúng đƣợc giá trị văn hoá, nghệ thuật cùng với chặng đƣờng phát triển kinh tế, xã hội ở Xuân Quang đã gặp không ít những khó khăn. Tuy nhiên một hệ thống tín ngƣỡng ở Xuân Quang vẫn còn đƣợc lƣu giữ lại trong nhân dân và trong trí nhớ dân gian cho thấy nét văn hoá tinh thần nơi đây là rất 19 phong phú và đa dạng.
Đáng tiếc là những dấu tích của loại hình sinh hoạt văn hoá này đến nay hiện hữu còn khá mờ nhạt.