Chương 1 còn trình bày về thực tiễn chủ thể nghiên cứu, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể và các cơ sở hình thành múa Khmer Nam Bộ. Chương 2: Đặc điểm và giá trị múa truyền thống Khmer Nam Bộ (50 trang) Về đặc điểm, chúng tôi xác định múa truyền thống Khmer Nam Bộ hiện hữu rõ có ba loại hình: múa cổ điển, múa dân gian và múa trong kịch hát. NCS tiến hành phân tích theo ba nhóm hướng: nội dung - hình thức; ngôn ngữ - động tác và âm nhạc làm rõ đặc điểm của ba loại hình trên. Nội dung thứ hai, tập trung phân tích về giá trị múa Khmer Nam Bộ ở ba khía cạnh: giá trị nhận thức; giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ.
Chương 3: Những biến đổi hiện nay của múa Khmer Nam Bộ. (40 trang) Chúng tôi xác định bối cảnh và tìm hiểu nguyên nhân cho thấy đối tượng múa Khmer Nam Bộ hiện nay có sự biến đổi. Phân tích chỉ ra những biểu hiện của biến đổi múa Khmer Nam Bộ thể hiện ở ba loại hình: múa cổ điển, múa dân gian và múa trong kịch hát xoay quanh các vấn đề về nội dung - hình thức, ngôn ngữ - động tác và âm nhạc. Qua đó, chúng tôi đánh giá hệ quả ở hai mặt: tích cực và hạn chế của sự biến đổi múa Khmer Nam Bộ hiện nay.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận 1. Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài Để phục vụ nhu cầu nghiên cứu về văn hoá ở Việt Nam, các Trung tâm, Viện nghiên cứu văn hoá đã tổ chức dịch các công trình của các tác giả nước ngoài, cụ thể năm 2001 Viện Thông tin Khoa học Xã hội thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia đã dịch các nghiên cứu của các nhà văn hoá học, nhân học, xã hội học trên thế giới như: White.
với tựa đề công trình là Văn hoá học và văn hoá thế kỉ XX. Radughin, Văn hóa học những bài giảng do Vũ Đình Phòng dịch từ nguyên bản tiếng Nga Kulturologia, Nxb Trung Tâm năm 1997, Moskva, hiệu đính bởi Từ Thị Loan. Trong cuốn này có ba phần: Bản chất và chức năng của văn hóa; Sự phát triển của văn hóa thế giới; Những giai đoạn phát triển chủ yếu của nền văn hóa Nga (Viện Văn hóa - Thông tin, 2004). Chúng tôi chú ý đến hai nội dung trong phần một đó là Văn hóa với tư cách là đối tượng của Văn hóa học, Văn hóa với tư cách là một hệ thống để xem xét đối tượng nghiên cứu trong Luận án.
Nhiều tác giả trong công trình Văn hóa học - Những phương pháp nghiên cứu, được Viện Văn hóa - Thông tin dịch, Nguyễn Chí Bền chịu trách nhiệm xuất bản, Từ Thị Loan biên tập. Macdonald với bài nghiên cứu “Điền dã: sưu tầm văn học truyền miệng” và Bryman với bài nghiên cứu “Phỏng vấn trong nghiên cứu định tính” (Viện Văn hóa - Thông tin, 2007). Hai bài nghiên cứu này cung cấp lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cần thiết nhất, do đó để thực hiện đề tài này chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu định tính. Chris Barker với công trình Nghiên cứu văn hóa lý thuyết và thực hành, đã được Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam dịch, Lê Tiến Dũng chịu trách nhiệm xuất bản, Vũ Thanh Việt và Nguyễn Chí Bền chịu trách nhiệm bản thảo, Phan Thanh Nhàn và Phạm Lan Oanh biên tập, Nxb Văn hóa Thông tin.
Sách gồm có ba phần: Văn hóa và nghiên 7 cứu văn hóa; Bối cảnh thay đổi của nghiên cứu văn hóa; Những vấn đề của nghiên cứu văn hóa. (Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, 2011) Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiếp cận các công trình lý thuyết và phương pháp của ngành nhân học giúp bổ trợ cho công trình nghiên cứu như: H. Russel Bernard (2009), Research methods in anthropology: Qualitative and Quantitative Approaches - Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học - tiếp cận định tính và định lượng, đã được Hoàng Trọng, Ngô Thị Phương Lan, Trương Thị Thu Hằng dịch, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh năm 2009.
Các nội dung NCS chú ý gồm: quan sát tham dự, ghi chép điền dã, phỏng vấn, bảng hỏi,… (H. Warms (2010), Lý thuyết nhân học - giới thiệu lịch sử, do Lê Sơn Phương Ngọc và Đinh Hồng Phúc dịch, hiệu đính bởi Nguyễn Văn Lịch và Phan An, Nxb Từ điển Bách khoa. Tài liệu có bốn phần: Các nền tảng lịch sử của lý thuyết nhân loại học; Lý thuyết văn hóa vào đầu thế kỷ XX; Vấn đề lý thuyết giữa thế kỷ XX; Khuynh hướng gần đây trong lý thuyết nhân loại học. Nhìn chung, thuyết chức năng trong nhân loại học cơ bản được chia thành hai hệ tư tưởng, mỗi hệ kết hợp với một tên tuổi chủ chốt: Thuyết chức năng tâm lý của Malinowski 1884 - 1942, thuyết cấu trúc - chức năng của Brown 1881 - 1955 (L.
Chúng tôi vận dụng phương pháp chọn nghiên cứu thực địa, thu thập dữ liệu để tìm hiểu các thiết chế văn hóa Khmer Nam Bộ, qua đó tìm hiểu các loại hình nghệ thuật múa của tộc người này ở khía cạnh chức năng duy trì trạng thái cân bằng và sự cố kết cộng đồng xã hội. Michael Pickering (chủ biên), Nguyễn Vân Hà (dịch 2018), Research methods for cultural studies - Phương pháp nghiên cứu Văn hóa học, Nxb Dân trí. Nội dung công trình này gồm có năm phần: Cuộc sống và kinh nghiệm sống; Sản xuất và tiêu thụ; Lượng và chất; Văn bản và hình ảnh; Kết nối quá khứ. Ông đã lựa chọn, tổng hợp trong khuôn khổ bảy công trình quan trọng bàn về mỹ học và văn học nghệ thuật của Diderot: Luận về cái đẹp (Traité du beau); Về những tác giả và các nhà phê bình (Des auteurs et des critiques); 8 Những tùy bút về hội họa (Essais sur la peinture); Châm biếm 1 (Satire I); Tán dương Richardson (Éloge de Richardson); Trò chuyện với Dorval về đứa con hoang (Entretien sur Le Fils naturel); Ý kiến ngược đời về diễn viên (Paradoxe sur le comédien).
Cuốn sách giúp NCS tiếp cận những thông điệp của một nhà tư tưởng lớn về những vấn đề gần gũi với đời sống, đó là mối quan hệ giữa cái thật, cái tốt và cái đẹp; về phong cách phê bình; câu chuyện hội họa hay kiến trúc và về diễn xuất của nghệ sĩ trên sân khấu. Nhìn chung, nhóm tài liệu về lý thuyết và phương pháp của các tác giả nước ngoài được trình bày ở trên giúp chúng tôi tiếp cận và kế thừa ở các nội dung: phương pháp định tính, thực địa, tham dự, phỏng vấn cùng với lý thuyết chức năng áp dụng thực tiễn vào trong đề tài Luận án. Các nghiên cứu của các tác giả trong nước Nghiên cứu về múa Khmer Nam Bộ, chúng tôi tiếp cận được công trình: Khái luận Nghệ thuật múa của Lê Ngọc Canh. Nội dung tài liệu này, có bốn chương: Nguồn gốc hình thành nghệ thuật múa; Hình thái nghệ thuật múa; Đặc trưng nghệ thuật múa; Thể loại nghệ thuật múa (Lê Ngọc Canh, 1997).
Đây là công trình lý luận chuyên sâu về nghệ thuật múa, là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi tham khảo nghiên cứu múa Khmer Nam Bộ. Đỗ Văn Khang (2001) Nghệ thuật học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. Chúng tôi chú ý đến các học thuyết về nguồn gốc ra đời của nghệ thuật được trình bày trong tài liệu này gồm: thuyết bắt chước, thuyết du hí, thuyết ma thuật, thuyết biểu hiện và thuyết tổng sinh lực - sinh lực thừa (Đỗ Văn Khang, 2001). Qua các thuyết này, chúng tôi tiến hành lựa chọn, soi xét, lý giải nguồn gốc ra đời của múa Khmer Nam Bộ.
Về công trình lý luận hướng tiếp cận Văn hóa học nghệ thuật: “Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của Văn hóa học” đăng Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, số 10 năm 2006 của Phan Thị Thu Hiền. Tác giả xác định phương pháp nghiên cứu như sau: Văn hoá học nói chung, văn hoá học nghệ thuật nói riêng, nhấn mạnh hơn trên phương pháp nghiên cứu hệ thống, tích hợp liên ngành (Phan Thị Thu Hiền, 2016). Ở đề tài này, chúng tôi chọn nghiên cứu theo hướng tiếp cận văn hóa học nghệ thuật: 9 nghiên cứu các tác phẩm, nền tảng múa Khmer Nam Bộ qua đó cho thấy được nền văn hóa đã sản sinh, nuôi dưỡng, môi trường hoạt động múa của người Khmer Nam Bộ. Ngoài ra, chúng tôi cũng chú ý đến công trình Nhân học: Ngành khoa học về con người, Nxb Tri thức, Hà Nội có các nội dung như: Nghệ thuật và nhân học nghệ thuật; Ba dạng thức của nhân học nghệ thuật; Hai trụ cột của nhân học nghệ thuật; Nhân học nghệ thuật ở Việt Nam (Đinh Hồng Hải, 2020).
Đây là những nội dung rất cần thiết giúp chúng tôi có cái nhìn tập trung vào chiều kích xã hội của nghệ thuật (chiều sâu), thay vì các nghiên cứu trước đây nghiên cứu về nghệ thuật thường có hướng tiếp cận tập trung vào lịch sử nghệ thuật học (chiều dọc), phê bình nghệ thuật (chiều ngang). Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn 1. Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài a. Nghiên cứu về tộc người và văn hóa Khmer + Nghiên cứu khảo cổ học văn hóa Óc Eo có tác giả L.
Sau khi phát hiện ra văn hóa Óc Eo, ông đã tiến hành khai quật di tích này ở gần núi Ba Thê - nay thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, kết quả từ năm 1959 đến 1963 ông đã cho ra đời một công trình đồ sộ mang tên Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long (L’Archeologie du Delta du Mékong) gồm 4 tập: Sự khám phá khảo cổ học và những cuộc khai quật Óc Eo (L’Exploration archéologique et les fouilles d’Oc Eo) gồm 473 trang và 47 trang bản vẽ; Nền văn minh vật chất Óc Eo (La civilisation matérielle) gồm 397 trang và 152 trang bản vẽ; Nền văn hóa Phù Nam (La culture du Founam) gồm 500 trang và 101 trang bản vẽ; Khảo cổ học bên này sông Bassac (Le Cisbassac). Ngoài ra, còn có công trình của nhà khảo cổ Pháp Giteau, tác giả quyển Lịch sử Cao Miên (Histoire du Cambodge). Chúng tôi tiếp cận gián tiếp công trình này qua các công bố khoa học của các tác giả (Lê Hương, 1969) và (Vũ Minh Giang, 2011) qua đó nhận diện chủ thể nghiên cứu người Khmer Nam Bộ ở các phương diện: nguồn gốc, quá trình hình thành người Khmer tại Nam Bộ. 10 + Nghiên cứu về khoa học huyết chủng Pierre Rossion trong bài viết của mình đăng trên Tạp chí Khoa học và Đời sống (Science et Vie) xuất bản ở Pháp vào tháng 10 năm 1974, số 685, tr.