CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC NGÔN NGỮ Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.Hiện tượng song ngữ, đa ngữ Song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện tượng một người có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ của người song ngữ trong xã hội đa ngữ [16]. Khái niệm song ngữ cũng bao hàm một số vấn đề sau: 1) Hiện nay xu hướng người biết không chỉ hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ xuất hiện. Tuy nhiên, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng một trong hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện tượng vừa nêu; 2) Nói đến song ngữ cũng không chỉ đề cập đến các cá nhân song ngữ mà muốn đề cập đến song ngữ trong một cộng đồng, đó là, hiện tượng song ngữ xã hội. Ở đấy, các cá nhân song ngữ có thể sử dụng ngôn ngữ mà họ cùng biết để giao tiếp với nhau và các ngôn ngữ trong cộng đồng này có thể tương tác lẫn nhau, tạo nên hiện tượng song ngữ xã hội; 3) Yếu tố không kém phần quan trọng liên quan đến song ngữ xã hội là phải có người song ngữ.
Cách hiểu đơn giản về người song ngữ là người biết hai hoặc trên hai ngôn ngữ hoàn toàn như nhau, có khả năng sử dụng thuần thục hai hoặc trên hai ngôn ngữ đó. Ở Việt Nam, đa ngữ là trạng thái phổ biến trong sử dụng ngôn ngữ của cư dân ở các vùng DTTS. Đây là trạng thái song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc (ví dụ Việt - Dao, Việt- Mường, Việt- Chăm.) hoặc trạng thái đa ngữ tiếng Việt – hai hoặc hơn hai tiếng dân tộc (ví dụ Việt - Hoa - Khmer). Mức độ đa ngữ ở xã hội cũng như giữa các cá nhân đa ngữ hết sức khác nhau.
Điều này trước hết phụ thuộc vào khả năng sử dụng tiếng Việt của cư dân. Đáng chú ý là trong một phạm vi địa lý hẹp hoặc trong phạm vi cư dân hẹp hiện đang tồn tại hai trạng thái: 1) Trạng thái song ngữ, hay đa ngữ chỉ giữa các dân tộc thiểu số với nhau; 2) Trạng thái song ngữ, hay đa ngữ giữa tiếng dân tộc thiểu số và tiếng Việt. Do trình độ phát triển, sự phân bố mật độ dân cư và các điều kiện khác mà vị thế (thể hiện ở chức năng) giữa các ngôn ngữ có những điểm khác nhau. Ngoại trừ tiếng Việt là tiếng phổ thông, ngôn ngữ của các DTTS có những chức năng xã hội 15 khác nhau.
Ví dụ: Có ngôn ngữ được sử dụng rộng trên cả vùng như tiếng Thái, tiếng Mường, Khmer ; lại có có những ngôn ngữ chỉ được sử dụng để giao tiếp trong cộng đồng thôn bản thậm chí trong gia đình như tiếng Pà Thẻn, tiếng Xinh Mun,. Vì ở trong trạng thái đa ngữ nên các ngôn ngữ có điều kiện tiếp xúc với nhau và hệ quả dẫn đến là có sự giao thoa, vay mượn các yếu tố giữa các ngôn ngữ. Tuy nhiên do quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ lại chịu áp lực của ưu thế chức năng xã hội giữa chúng nên có thể thấy nhiều yếu tố của tiếng Việt, đặc biệt là từ vựng du nhập vào ngôn ngữ các dân tộc [4], [5]. Nguyên nhân nảy sinh hiện tượng song ngữ Hiện tượng song ngữ là hệ quả tất yếu dưới tác động của hàng loạt các nhân tố xã hội.
Chẳng hạn như di dân vì các lý do khác nhau, vấn đề giáo dục song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, chính trị, kinh tế,… mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn. Trong đó nổi lên một số nguyên nhân chính như sau [1], [4], [16]: 1) Trước hết là do hiện tượng di dân ví vấn đề quân sự, kinh tế, thương mại, hiện tượng người từ vùng này đến vùng kia hoặc từ nhiều vùng tràn vào một vùngđã tạo nên trạng thái đa ngữ theo kiểu khác nhau như cư dân mới đến và cư dân bản địa học ngôn ngữ của nhau; cư dân mới đến học ngôn ngữ của cư dân bản địa; cư dân bản địa học ngôn ngữ của cư dân mới đến. 2) Sự thay đổi về chính trị trong các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái song ngữ như sự thay đổi về chế độ chính trị tạo nên làn sóng người di tản. Sự liên minh về chính trị của các dân tộc khác nhau, sự bảo đảm quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc trong đó có ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc cũng tạo nên trạng thái đa ngữ.
Ví dụ: Liên Xô (cũ) trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, tiếng Nga được coi là ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc. Tại các nước cộng hoà, bên cạnh tiếng Nga là ngôn ngữ quốc gia, các ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng trong giao tiếp. 16 3) Trạng thái đa ngữ còn được tạo nên do việc truyền đạo như trường hợp tiếng La-tinh giữ vai trò quan trọng và trở thành ngôn ngữ tôn giáo trong đạo Công giáo ở các nước phương Tây trong nhiều thế kỷ. 4) Giáo dục song ngữ trong các cộng đồng dân tộc cũng là nguyên nhân tạo nên trạng thái song ngữ.
Ví dụ việc học ngoại ngữ như tiếng Anh ở các quốc gia không nói tiếng Anh cũng tạo ra trạng thái đa ngữ không chỉ trong một nhóm người mà đã mang tính xã hội. Ngày nay tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, thậm chí nó được sử dụng làm ngôn ngữ hành chính ở rất nhiều quốc gia như Malaysia, Singapore,. Hiện tượng song ngữ xã hội nhờ giáo dục còn có thể thấy rõ ở các vùng dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Do nhu cầu giao tiếp và nhu cầu của cuộc sống, người dân tộc thiểu số đều có quyền lợi và nghĩa vụ học ngôn ngữ giao tiếp chung là tiếng Việt.
Do đó hiện tượng song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số xuất hiện. Những vấn đề về chính sách ngôn ngữ Có rất nhiều định nghĩa về chính sách ngôn ngữ, chẳng hạn theo tác giả V. Arovin (1970): “Chính sách ngôn ngữ là hệ thống biện pháp nhằm tác động một cách có ý thức để điều chỉnh mặt chức năng của ngôn ngữ và thông qua đó tác động đến cấu trúc ngôn ngữ ở một chừng mực nhất định” [dẫn theo 21, tr. Theo tác giả Như Ý (1985): Chính sách ngôn ngữ là hệ thống các quan điểm chính trị của một nhà nước, một giai cấp, một đảng phái về các vấn đề ngôn ngữ và hệ thống các biện pháp do nhà nước, giai cấp, đảng phái đó tiến hành nhằm tác động lên sự hành chức và sự biến đổi của các ngôn ngữ và các hình thức tồn tại ngôn ngữ theo những mục đích chính trị nhất định [dẫn theo 21, tr.
Như vậy, có thể thấy rằng chính sách ngôn ngữ là một vấn đề mà bất kỳ một quốc gia có chủ quyền nào cũng có, nhất là ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Trong những thập niên gần đây, chúng ta thấy có những sự thay đổi, điều chỉnh 17 chính sách ngôn ngữ ở nhiều quốc gia. Đó là bởi vì càng ngày người ta nhận ra rằng một chính sách ngôn ngữ chỉ thực sự hữu hiệu nếu như nó phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ ở quốc gia đó. Rõ ràng là mỗi một quốc gia cần thiết phải thực hiện một chính sách ngôn ngữ - dân tộc riêng, tương hợp với cảnh huống ngôn ngữ, với thành phần dân tộc, với quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc, về giá trị của các dân tộc nói các ngôn ngữ khác nhau.
Chẳng hạn như ở Australia bên cạnh việc xác lập vị trí số một của tiếng Anh, chính phủ nước này rất coi trọng việc giảng dạy các ngôn ngữ bản địa ở những vùng khác nhau. Việc thực hiện giáo dục song ngữ ở Australia, theo Josph Lo Bianco là do xuất phát từ bốn mục đích xã hội trực tiếp là: a. Làm giàu về văn hóa, tri thức cho người học; b. Góp phần phát triển kinh tế thông qua việc cung cấp tri thức về sản xuất và trao đổi sản phẩm; c.
Tạo ra sự bình đẳng và công bằng xã hội của cá nhân trong cộng đồng quốc gia; d. Nâng cao vị trí của quốc gia trong khu vực và trên thế giới [dẫn theo 4, tr. Trong các quốc gia đa dân tộc, nhìn chung chính sách ngôn ngữ thường rất phức tạp, phải chú ý đến nhiều nhân tố khác nhau, bởi vì chính sách ngôn ngữ thường được coi là một bộ phận của chính sách dân tộc và nó phụ thuộc vào các nguyên tắc chung của chính sách dân tộc. Mỗi quốc gia, mỗi đảng phái chính trị có quan điểm khác nhau về dân tộc, tộc người, mối quan hệ giữa tộc người với ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, quốc gia.
Trên thực tế, ở một số nước chính sách ngôn ngữ dân tộc đã không thu được kết quả mong muốn, do nó không được xây dựng trên một cơ sở lý luận đúng đắn. Ở một số nước Châu Á, Châu Phi, việc đồng nhất dân tộc và quốc gia dẫn đến vi phạm lợi ích của những dân tộc thiểu số không có quốc gia. Những xung đột giữa các bộ tộc ở một số nước châu Phi những năm gần đây là các ví dụ. Ở một số nước đạo Hồi là quốc giáo, người ta đồng nhất dân tộc và tôn giáo, dẫn đến việc coi nhẹ sự khác biệt dân tộc.
Ví dụ, Pakistan được tuyên bố là đất nước của một dân tộc thống nhất và tiếng Uocđu là ngôn ngữ quốc gia; thế nhưng thực ra Pakistan là quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, chỉ có 10% dân số nói tiếng 18 Uocđu cho nên ngôn ngữ này không thực hiện được chức năng là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc [4]. Chính sách ngôn ngữ bao giờ cũng hàm chứa sự tác động có ý thức của xã hội đối với ngôn ngữ, đặc biệt là khi trong xã hội nảy sinh những vấn đề ngôn ngữ. Sự tác động đó, ở một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ như Việt Nam, sẽ đồng thời liên quan đến tiếng Việt, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số anh em, các ngoại ngữ (đang được dạy học và sử dụng ở Việt Nam).