Tổng quan nghiên cứu

Huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng là địa bàn miền núi đa dân tộc với quy mô dân số trên 160.000 người thuộc 28 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, đồng bào dân tộc Cơ Ho chiếm khoảng 36% dân số với gần 60.000 người, tập trung chủ yếu tại các xã Gia Bắc, Sơn Điền, Gung Ré, Bảo Thuận và Đinh Trang Hòa. Trong bức tranh đa văn hóa này, tiếng Việt giữ vai trò là ngôn ngữ quốc gia và công cụ giao tiếp chung, nhưng đối với học sinh dân tộc thiểu số nói chung và học sinh Cơ Ho nói riêng, tiếng Việt lại là ngôn ngữ thứ hai chứ không phải tiếng mẹ đẻ. Thực tế giáo dục tại 88 trường học các cấp trên địa bàn cho thấy, tỷ lệ học sinh Cơ Ho lưu ban và bỏ học có chiều hướng gia tăng do rào cản tiếp thu bài giảng khi chương trình phổ thông áp dụng sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy tiếng Việt như tiếng mẹ đẻ.

Đề tài nghiên cứu được tác giả Vũ Văn Toán thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Khắc Cường tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu trọng tâm của luận văn là khảo sát và xác định chính xác năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh dân tộc Cơ Ho ở hai bậc học Tiểu học và Trung học cơ sở trên hai phương diện: tiếng Việt với tư cách là môn học và tiếng Việt trong giao tiếp đời sống. Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại 7 trường học trọng điểm trên địa bàn huyện Di Linh, bao gồm Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Di Linh, các trường Tiểu học Lam Sơn, Bảo Thuận, Tân Thượng, Đinh Trang Hòa và các trường Trung học cơ sở Gung Ré, Bảo Thuận, Đinh Trang Hòa. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập liên tục trong 3 năm học từ 2012 đến 2015, tập trung cao điểm vào năm học 2014-2015. Ý nghĩa của công trình là cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và định lượng chuẩn xác, làm nền tảng khoa học cho việc điều chỉnh chính sách giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba hệ thống lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại:

Thứ nhất, Lý thuyết Ngôn ngữ học cấu trúc của Noam Chomsky với sự phân biệt rành mạch giữa năng lực ngôn ngữ (kiến thức tiềm ẩn về hệ thống quy tắc ngữ pháp trong tư duy) và hành vi ngôn ngữ (sự hiện thực hóa năng lực đó trong các ngữ cảnh cụ thể).

Thứ hai, Lý thuyết Năng lực giao tiếp do Dell Hymes khởi xướng và được hoàn thiện bởi Canale, Swain cùng Lyle Bachman. Mô hình này mở rộng phạm trù năng lực ngôn ngữ ra bốn thành tố cốt lõi: thành tố ngữ học (tri thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp), thành tố diễn ngôn (liên kết ý tưởng mạch lạc), thành tố ngôn ngữ xã hội (sử dụng ngôn ngữ phù hợp bối cảnh văn hóa) và thành tố chiến lược (vận dụng giải pháp bù đắp khi giao tiếp bị gián đoạn).

Thứ ba, Lý thuyết Thụ đắc ngôn ngữ của Stephen Krashen, khẳng định năng lực ngôn ngữ thứ hai được hình thành tối ưu thông qua quá trình thụ đắc tự nhiên trong môi trường giao tiếp thực tế qua bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thay vì học thuộc lý thuyết ngữ pháp khô cứng.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm công cụ nền tảng: tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ đầu đời gắn liền với tư duy tộc người), ngôn ngữ quốc gia (ngôn ngữ chính thức của toàn dân), hiện tượng song ngữ bất bình đẳng (trong đó tiếng Việt chiếm ưu thế về chức năng xã hội còn tiếng Cơ Ho chiếm ưu thế trong sinh hoạt gia đình), và thái độ ngôn ngữ (xu hướng tâm lý trung thành với tiếng mẹ đẻ kết hợp nhu cầu học tiếng phổ thông để phát triển kinh tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp tiếp cận định lượng của ngôn ngữ học xã hội và phương pháp phân tích lỗi của ngôn ngữ học ứng dụng:

Nguồn dữ liệu định lượng được thu thập từ mẫu khảo sát gồm 367 học sinh dân tộc Cơ Ho, trong đó có 104 học sinh bậc Tiểu học và 263 học sinh bậc Trung học cơ sở tại 7 trường thuộc huyện Di Linh. Phiếu điều tra được thiết kế theo cấu trúc câu hỏi đóng và mở, bao quát 5 nhóm thông tin: tự đánh giá năng lực, hiện trạng sử dụng ngôn ngữ 4 kỹ năng, môi trường giao tiếp gia đình - xã hội, thái độ ngôn ngữ và đề xuất dạy học.

Nguồn dữ liệu định tính và điền dã bao gồm: phỏng vấn sâu 20 giáo viên trực tiếp giảng dạy vùng đồng bào, 10 học sinh Cơ Ho, 50 phụ huynh người Cơ Ho (chia đều 25 phụ huynh bậc Tiểu học và 25 phụ huynh bậc Trung học cơ sở) và 10 cán bộ quản lý cấp xã, huyện. Tác giả tiến hành quan sát tham dự tại 10 tiết học (Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục), theo dõi 10 tình huống giao tiếp tự nhiên tại trường học và buôn làng, đồng thời ghi âm 20 mẫu ngữ liệu hội thoại thực tế.

Phương pháp phân tích lỗi được thực hiện trên tổng thể 925 bài kiểm tra của học sinh bao gồm các dạng bài điền phụ âm, nguyên âm, thanh điệu, đọc hiểu, sắp xếp câu và tập làm văn.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm khắc phục triệt để tính chủ quan của bảng tự đánh giá, đối chiếu chéo giữa nhận thức của học sinh với đánh giá của giáo viên và minh chứng lỗi sai thực tế. Toàn bộ dữ liệu định lượng được mã hóa và xử lý thống kê tương quan bằng phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel trong giai đoạn nghiên cứu từ 2012 đến 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế mang lại những phát hiện quan trọng về năng lực tiếng Việt của học sinh Cơ Ho tại Di Linh:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa cảm nhận tự đánh giá của học sinh và đánh giá chuyên môn của giáo viên. Kết quả điều tra cho thấy có 21,53% học sinh tự nhận thành thạo tiếng Việt, 30,52% đánh giá ở mức khá và 23,98% mức trung bình (tổng cộng 76,03% tự đánh giá từ trung bình trở lên), trong khi chỉ có 12,81% nhận mức kém và 11,17% nhận mức rất kém. Ngược lại, 100% giáo viên được phỏng vấn đều khẳng định năng lực tiếng Việt thực tế của các em chỉ ở mức trung bình và yếu, nhiều học sinh lớp 2 và lớp 3 sau kỳ nghỉ hè bị quên đáng kể vốn tiếng Việt do không được sử dụng tại gia đình.

Thứ hai, mức độ thành thạo 4 kỹ năng có sự phân hóa mạnh mẽ theo bậc học và môi trường sống. Tổng hợp chung có 73,30% học sinh đạt mức độ thành thạo cả 4 kỹ năng (nam chiếm 39,24%, nữ chiếm 34,06%), tuy nhiên tỷ lệ này tập trung phần lớn ở cuối cấp Trung học cơ sở và học sinh Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú. Đáng lo ngại là có đến 14,70% học sinh rơi vào tình trạng nghe nói được nhưng không biết đọc viết (mù chữ tiếng Việt), 6,50% hoàn toàn không biết gì về tiếng Việt, 3,20% nghe đọc được nhưng không thể nói viết, và 2,20% chỉ đọc viết cơ học mà không giao tiếp khẩu ngữ được.

Thứ ba, kỹ năng nghe hiểu bài giảng bằng tiếng Việt trong nhà trường còn rất hạn chế. Khảo sát mức độ tiếp thu cho thấy chỉ có 38,42% học sinh (141 em) hiểu rõ bài giảng của thầy cô giáo, trong khi có tới 47,68% (175 em) chỉ hiểu bài một cách ít ỏi, rời rạc và 13,90% (51 em) hoàn toàn không hiểu nội dung bài học. Mức độ tiếp thu có sự chênh lệch rõ theo môn học: tỷ lệ hiểu bài đạt khoảng 85% ở môn Âm nhạc và Mỹ thuật, 75% ở môn Toán, nhưng giảm xuống chỉ còn khoảng 60% ở môn Tiếng Việt và Lịch sử.

Thứ tư, môi trường giao tiếp gia đình thuần tiếng mẹ đẻ chi phối trực tiếp đến năng lực tiếng Việt. Trong số 50 phụ huynh người Cơ Ho được khảo sát, có 6,00% hoàn toàn không thể nghe nói tiếng Việt, 30,00% chỉ dừng lại ở mức độ chào hỏi đơn giản, 44,00% giao tiếp sinh hoạt thông thường, và chỉ 20,00% sử dụng được tiếng Việt trong lĩnh vực chính trị, khoa học kỹ thuật. Có tới 100% gia đình Cơ Ho sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ giao tiếp nội bộ thường nhật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự hạn chế năng lực tiếng Việt của học sinh Cơ Ho bắt nguồn từ cảnh huống ngôn ngữ mang tính chất song ngữ bổ sung nhưng bất bình đẳng. Ở giai đoạn tiền học đường, trẻ em Cơ Ho sống khép kín trong buôn làng, hoàn toàn tiếp xúc bằng tiếng mẹ đẻ. Khi bước vào lớp 1, các em phải tiếp cận ngay chương trình sách giáo khoa được thiết kế dành riêng cho người bản ngữ nói tiếng Việt. Việc thiếu vắng giai đoạn chuẩn bị ngôn ngữ thứ hai khiến học sinh rơi vào trạng thái sốc ngôn ngữ, dẫn đến rụt rè, thụ động và tiếp thu kiến thức chậm chạp.

So sánh với các nghiên cứu tương tự về thực trạng song ngữ Khmer - Việt tại Đồng bằng Sông Cửu Long hay song ngữ Phù Lá - Việt tại Tây Bắc, hiện tượng rào cản ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho tại Di Linh mang tính phổ quát ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, điểm đặc thù tại Di Linh là sự chuyển biến tích cực về năng lực tiếng Việt tăng dần theo bậc học nhờ sự hòa nhập cộng cư với người Kinh và hiệu quả của mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ các phát hiện trên có thể được biểu diễn rõ ràng qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ tự đánh giá của học sinh với đánh giá thực tế của giáo viên, kết hợp bảng phân phối chéo thể hiện cơ cấu 47,68% học sinh hiểu ít và 13,90% không hiểu bài giảng để làm nổi bật nhu cầu cấp bách của việc đổi mới phương pháp sư phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực tiếng Việt và giảm thiểu tỷ lệ lưu ban, bỏ học cho học sinh Cơ Ho tại huyện Di Linh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt theo định hướng ngôn ngữ thứ hai (L2): Áp dụng phương pháp giao tiếp trực quan, tăng cường thời lượng luyện nói và nghe hiểu trước khi chuyển sang kỹ năng đọc viết. Mục tiêu hành động là nâng tỷ lệ học sinh hiểu rõ bài giảng từ 38,42% hiện nay lên trên 75% trong vòng 2 năm học. Chủ thể thực hiện: Giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm các trường Tiểu học, Trung học cơ sở toàn huyện Di Linh.

  2. Triển khai chương trình tăng cường tiếng Việt mầm non và tiền học đường: Tổ chức các lớp học tiếng Việt hè tăng cường kéo dài 2 đến 3 tháng cho 100% trẻ em mẫu giáo 5 tuổi người Cơ Ho trước khi vào lớp 1. Mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh không biết tiếng Việt khi bước vào bậc tiểu học từ 6,50% xuống dưới 1% trong giai đoạn 2016-2018. Chủ thể thực hiện: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Di Linh phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các xã Gia Bắc, Sơn Điền, Bảo Thuận, Gung Ré.

  3. Biên soạn tài liệu bổ trợ và từ điển đối chiếu song ngữ Việt - Cơ Ho: Xây dựng hệ thống sổ tay thuật ngữ học tập đối chiếu Việt - Cơ Ho, tuyển tập truyện đọc song ngữ có hình ảnh minh họa và phiếu bài tập chữa lỗi ngữ âm đặc thù (thanh điệu, phụ âm cuối). Đặt mục tiêu giảm 50% các lỗi dùng từ và chính tả trong các bài kiểm tra văn bản trong vòng 3 năm học. Chủ thể thực hiện: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng phối hợp với các chuyên gia ngôn ngữ học.

  4. Tổ chức tập huấn chuẩn hóa nghiệp vụ sư phạm song ngữ cho đội ngũ nhà giáo: Thiết kế các khóa đào tạo thường niên về phương pháp dạy học ngôn ngữ thứ hai và kỹ năng xử lý chuyển mã ngôn ngữ trong lớp học cho 100% giáo viên công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ năm học 2016-2017. Chủ trì: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Di Linh liên kết cùng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách giáo dục dân tộc: Cung cấp hệ thống cứ liệu thực chứng và các chỉ số định lượng cụ thể về năng lực ngôn ngữ của học sinh Cơ Ho, phục vụ công tác xây dựng đề án phát triển giáo dục vùng khó khăn và phân bổ ngân sách đào tạo phù hợp.

  2. Giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các trường Tiểu học và Trung học cơ sở vùng miền núi: Giúp giáo viên hiểu rõ tâm lý rụt rè, cấu trúc rào cản ngôn ngữ và hệ thống lỗi ngữ âm, từ vựng điển hình của học sinh dân tộc thiểu số, từ đó linh hoạt điều chỉnh giáo án và phương pháp tương tác trên lớp.

  3. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học ứng dụng: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát điền dã song ngữ, mô hình phân tích lỗi trên 925 bài kiểm tra và bức tranh tiếp xúc ngôn ngữ giữa nhóm Nam Á (Môn-Khmer) và tiếng Việt.

  4. Sinh viên, học viên cao học và giảng viên ngành sư phạm Tiểu học, Ngữ văn: Nguồn tư liệu chuyên ngành thực tiễn để nghiên cứu các chuyên đề về giáo dục song ngữ, tiếp thu ngôn ngữ thứ hai và phương pháp biên soạn tài liệu giảng dạy vùng đa văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao học sinh dân tộc Cơ Ho gặp nhiều khó khăn khi học theo sách giáo khoa hiện hành? Sách giáo khoa hiện hành được biên soạn với giả định học sinh đã có sẵn vốn tiếng Việt bản ngữ từ gia đình. Trong khi đó, 100% học sinh Cơ Ho dùng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt tiền học đường, khiến các em thiếu hụt vốn từ vựng nền tảng khi tiếp cận bài học.

Năng lực tiếng Việt của học sinh Cơ Ho biến chuyển như thế nào qua các cấp học? Năng lực tiếng Việt của học sinh tăng dần theo thời gian tiếp xúc học đường. Tỷ lệ học sinh yếu kém tập trung nhiều nhất ở các lớp đầu cấp Tiểu học với 14,70% không biết chữ, nhưng lên đến cấp Trung học cơ sở thì tỷ lệ sử dụng thành thạo đạt mức cao hơn đáng kể.

Mức độ tiếp thu bài giảng bằng tiếng Việt của học sinh tại lớp học đạt bao nhiêu phần trăm? Dữ liệu khảo sát định lượng chỉ ra rằng chỉ có 38,42% học sinh hiểu rõ lời giảng của giáo viên bằng tiếng Việt, trong khi có tới 47,68% học sinh chỉ hiểu ít và 13,90% hoàn toàn không hiểu bài, đặc biệt ở các môn khoa học xã hội.

Thái độ của cộng đồng người Cơ Ho tại Di Linh đối với tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ ra sao? Cộng đồng người Cơ Ho thể hiện thái độ song ngữ tích cực: 100% người dân yêu quý, duy trì tiếng mẹ đẻ trong gia đình và lễ hội, đồng thời 100% nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của tiếng Việt như phương tiện nâng cao dân trí và phát triển kinh tế.

Biện pháp then chốt nào giúp giảm thiểu tình trạng học sinh Cơ Ho bỏ học do rào cản ngôn ngữ? Giải pháp cốt lõi là tổ chức các lớp tăng cường tiếng Việt tiền học đường trước lớp 1 kết hợp chuyển đổi phương pháp sư phạm sang dạy tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, giúp trẻ em vượt qua cú sốc ngôn ngữ ban đầu.

Kết luận

  • Luận văn của tác giả Vũ Văn Toán đã phác họa thành công bức tranh toàn diện, chân thực về năng lực sử dụng tiếng Việt của 367 học sinh dân tộc Cơ Ho tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
  • Làm sáng tỏ thực trạng rào cản tiếp thu khi chỉ có 38,42% học sinh hiểu rõ bài giảng bằng tiếng Việt, đồng thời nhận diện tỷ lệ 14,70% học sinh nghe nói được nhưng chưa biết đọc viết tiếng phổ thông.
  • Phân tích sâu sắc cảnh huống song ngữ bất bình đẳng với 100% gia đình Cơ Ho duy trì tiếng mẹ đẻ và mối quan hệ giữa trình độ tiếng Việt của phụ huynh với kết quả học tập của con em.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng lý thuyết tiếp thu ngôn ngữ thứ hai và phương pháp phân tích lỗi trong việc thiết kế chương trình giáo dục vùng dân tộc thiểu số.
  • Đóng góp hệ thống 4 giải pháp đồng bộ có lộ trình cụ thể từ năm 2016 đến 2018, gắn kết trách nhiệm giữa nhà trường, cơ quan quản lý giáo dục và chính quyền địa phương.

Công trình là một tài liệu khoa học quý báu, đóng góp quan trọng vào kho tàng nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội và giáo dục song ngữ tại Việt Nam. Các cơ sở giáo dục, nhà nghiên cứu và giáo viên vùng cao cần tích cực tham khảo và vận dụng những kiến giải thực tiễn từ luận văn này nhằm nâng cao chất lượng dạy học và mở rộng cánh cửa tri thức cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số.