đặt vấn đề và tiến hành thử nghiệm, đã khẳng định ứng dụng CLIL trong dạy học Toán bằng tiếng Anh là một hướng đi hợp lý, đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong dạy Toán bằng tiếng Anh cho HS lớp 6. Cùng đề tài nghiên cứu, Trần Thị Thuỳ (2015) đã thực nghiệm dạy học Toán bằng tiếng Anh cho HS ở một lớp 8 tại trường Trung học Luan van 12 cơ sở Đoàn Thị Điểm. Tác giả đã nhận định rằng mặc dù vẫn tồn tại nhiều khó khăn nhưng không thể phủ nhận hiệu quả và lợi ích của việc dạy học Toán bằng tiếng Anh đối với người học. Cụ thể, HS được mở rộng vốn từ tiếng Anh chuyên ngành Toán, tiếp cận thêm nhiều phương pháp giải quyết vấn đề Toán học từ phương Tây, hiểu biết thêm văn hóa phương Tây từ giáo viên Mỹ, cải thiện trình độ tiếng Anh, phát triển các năng lực quan trọng như năng lực lập luận, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện, rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giải thích trong việc hướng cách giải bài toán cho bạn bè và biết thêm nhiều trang web trực tuyến để học Toán.
Chu Thu Hoàn (2018) khi bàn về vai trò của giáo viên trong việc dạy với phương pháp CLIL, đã nhận định rằng các GV CLIL sẽ cần phải chuẩn bị sự thành thạo về ba mặt bao gồm thứ nhất là nội dung bộ môn, thứ hai là ngôn ngữ và thứ ba là cách giảng dạy, bên cạnh đó cũng cần có sự tổng hòa của cả ba mặt trên và tổng hòa giữa CLIL với môi trường giảng dạy. Trong một công trình nghiên cứu khác, tác giả đã chỉ ra những thách thức đối với việc ứng dụng CLIL trong dạy học, gồm: yếu tố về quản lý; yếu tố về GV (đội ngũ GV nhất thiết phải là những người đạt chất lượng và có khả năng giải quyết những vấn đề liên quan đến cả mặt ngôn ngữ cũng như nội dung kiến thức bộ môn, hiểu biết sâu sắc và có thể ứng dụng phương pháp CLIL vào dạy học); yếu tố về HS (trình độ ngôn ngữ của HS, khả năng làm việc trong lớp học CLIL, cần nhiều sự trợ giúp trong thời gian đầu); yếu tố về nguồn tài liệu hỗ trợ (GV thiếu nguồn tài liệu và công cụ, GV cần một hệ thống đánh giá đáp ứng cả hai khía cạnh ngôn ngữ và kiến thức bộ môn, chương trình giữa các cấp học cần thống nhất với nhau và với mục tiêu, quan điểm của từng trường) (Chu Thu Hoàn, 2018). Bên cạnh đó, tác giả cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về việc dạy học môn Toán bằng tiếng Anh ứng dụng phương pháp CLIL ở cấp Trung học phổ thông như “Thực trạng dạy Toán bằng tiếng Anh ở trường THPT Chuyên ngoại ngữ Đại học Ngoại ngữ - Đại Học Quốc Gia Hà Nội và đề xuất” (2014), “Dạy Toán bằng tiếng Anh ở trường phổ thông Việt Nam tiếp cận theo quan điểm của CLIL” (2014), “5 HĐ dạy học theo quan điểm CLIL khi dạy học môn Toán bằng tiếng Anh” (2014). Nhiều nghiên cứu về việc đào tạo GV bộ môn (như GV Toán, GV Hoá,…) dạy học theo phương pháp CLIL cũng được thực hiện (Chu Thu Hoàn, 2018; Mai Thuỷ Tiên, 2013; Đào Thị Hoàng Hoa, 2014).
Bên cạnh đó, CLIL cũng được ứng dụng trong đào tạo sinh viên ngoài sư phạm tại nhiều trường Đại học. Nghiên cứu thăm dò về việc giáo viên ứng dụng CLIL để giảng dạy cho sinh viên năm hai hệ nhiệm vụ chiến lược tại trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra trở ngại lớn nhất của Luan van 13 sinh viên là trình độ tiếng Anh kém dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tiếp thu bài giảng của giảng viên, đọc giáo trình, làm bài tập, làm kiểm tra và chủ động tham gia vào tiết học; tuy nhiên, cả giáo viên và sinh viên tham gia vào nghiên cứu đều công nhận những lợi ích mà CLIL mang lại (Đỗ Thị Hồng Nhung, 2014). Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2014) đã chỉ ra những yêu cầu cơ bản trong việc ứng dụng CLIL để giảng dạy các học phần chuyên ngành Quốc tế học tại Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020. Trần Lê Việt Chung (2015) đã nghiên cứu về việc ứng dụng CLIL trong thiết kế giáo trình cho cảnh sát điều tra tại Đại học Cảnh sát Nhân dân Việt Nam.
Trong phạm vi rộng hơn, Nguyễn Thị Thuỷ (2018) đã thực hiện một nghiên cứu so sánh hai nhóm đối tượng HSTH được học theo phương pháp CLIL ở Madrid (Tây Ban Nha) và ở Hà Nội, từ đó đưa ra những ứng dụng thực tế giúp cải tiến thực trạng dạy học theo phương pháp này ở Việt Nam. Một vài nhận xét của người nghiên cứu: Qua các công trình nghiên cứu nói trên, có thể thấy rằng CLIL đang dần nhận được nhiều sự quan tâm và ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu đã khẳng định được tác động tích cực của việc ứng dụng CLIL trong dạy học. Đồng thời, các vấn đề xoay quanh những khó khăn ngày càng được làm rõ, cùng với đó nhiều biện pháp khắc phục đã được đề xuất.
Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu hướng đến cấp Trung học và Đại học, những nghiên cứu ở cấp Tiểu học chưa nhiều, ứng dụng CLIL trong dạy học Khoa học ở Tiểu học cũng ít được chú ý. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Từ việc nghiên cứu cơ sở khoa học về việc dạy Khoa học ở Tiểu học, phương pháp CLIL, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học và nội dung chương trình môn Khoa học ở Tiểu học, chúng tôi đề xuất áp dụng phương pháp CLIL trong dạy học Khoa học nhằm nâng cao năng lực khoa học và năng lực sử dụng tiếng Anh ở Tiểu học. Nhiệm vụ nghiên cứu (1) Tìm hiểu cơ sở lí luận: đọc các tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lý thuyết CLIL, cơ sở của việc ứng dụng CLIL trong dạy học cho HSTH.
(2) Tìm hiểu cơ sở thực tiễn: tìm hiểu việc triển khai CLIL ở các cấp học trong và ngoài nước; tìm hiểu thực trạng dạy học môn Tiếng Anh (đặc biệt là chương trình Tiếng Luan van 14 Anh tích hợp) ở Thành phố Hồ Chí Minh; tìm hiểu Chương trình giáo dục phổ thông môn Khoa học 2018 và Chương trình giáo dục phổ thông môn Tiếng Anh 2018 ở Tiểu học; tiến hành khảo sát mức độ hiểu biết của GV Tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh về phương pháp CLIL. (3) Thiết kế một số kế hoạch dạy học Khoa học ở Tiểu học bằng tiếng Anh ứng dụng phương pháp CLIL. (4) Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá theo năng lực; xây dựng các phiếu khảo sát lấy ý kiến, các bài kiểm tra và các câu hỏi phỏng vấn, quay video. (5) Chọn địa điểm thử nghiệm, thời gian và nội dung thử nghiệm; tiến hành thử nghiệm nhằm kiểm tra năng lực khoa học và năng lực sử dụng tiếng Anh của HS trước và sau thử nghiệm, đánh giá sự tiến bộ; quan sát thái độ của HS đối với việc học Khoa học với phương pháp CLIL.
(6) Thu thập, phân tích số liệu, đánh giá kết quả; đưa ra kết luận, kiến nghị và hướng phát triển cho đề tài. Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: cách thức ứng dụng phương pháp CLIL trong dạy học Khoa học ở Tiểu học bằng tiếng Anh. - Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học 5. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu dạy học theo phương pháp CLIL một số kiến thức trong môn Khoa học lớp 4, giai đoạn học kì 2.
- Mẫu nghiên cứu: 01 HS lớp Bốn tại trường tiểu học X, Quận 6, TP. Hồ Chí Minh. - Thời gian nghiên cứu: học kì 2, năm học 2019 – 2020 (tháng 4/2020). Giả thuyết khoa học Thực tế hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều trường Tiểu học đã tổ chức chương trình “Dạy và học các môn Toán, Khoa học và Tiếng Anh tích hợp chương trình Anh và Việt Nam” với 100% giáo viên bản ngữ giảng dạy.
Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp CLIL vào dạy học Khoa học là vấn đề còn rất mới đối với GV Tiểu học. Nếu người dạy nắm vững các nguyên tắc dạy học Khoa học theo phương pháp CLIL, có kĩ năng thiết kế, tổ chức dạy học và đánh giá thì có thể nâng cao năng lực khoa học tự nhiên và sử dụng tiếng Anh cho học sinh. Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lí luận Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đề tài.
Từ đó, người nghiên cứu xác lập cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu. Thống kê, so sánh tổng hợp các kết quả thử nghiệm. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát nhằm khảo sát ý kiến, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp thực nghiệm khoa học: đây là một phương pháp nhằm thử nghiệm và kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của các hoạt động dạy học Khoa học ở Tiểu học ứng dụng phương pháp CLIL đã thiết kế trước đó.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu Về mặt khoa học, đề tài nghiên cứu góp phần đề xuất một phương pháp dạy học ngôn ngữ – phương pháp CLIL, đồng thời làm rõ tính khả thi, những lợi ích cũng như những khó khăn mà GV và HS gặp phải khi ứng dụng CLIL trong dạy học Khoa học ở Tiểu học. Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp lý thuyết về phương pháp CLIL. Ngoài ra, đề tài cũng góp phần tìm hiểu sơ lược về việc triển khai CLIL tại các cấp học trong và ngoài nước, cũng như là thực trạng dạy học môn tiếng Anh (đặc biệt là chương trình Tiếng Anh tích hợp) ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Đồng thời, đề tài cũng cung cấp số liệu khảo sát mức độ hiểu biết về phương pháp CLIL của GV cấp Tiểu học ở Thành phố Hồ Chí Minh.