Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Bến Tre" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Long thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Công Tuấn. Luận án thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, mã số 62.01. Về hướng tiếp cận, công trình sử dụng phương pháp hỗn hợp (kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập Cộng đồng ASEAN vào tháng 12 năm 2015 và tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2020, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Theo số liệu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) được tác giả trích dẫn, năm 2014 ngành du lịch đã đóng góp trực tiếp 4,6% vào GDP cả nước, tạo ra hơn 1,96 triệu việc làm (chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động) và ước tính đạt 2,4 triệu lao động (chiếm 4% tổng lực lượng lao động) vào năm 2025.
Tại tỉnh Bến Tre, du lịch sinh thái miệt vườn là loại hình chiếm ưu thế với 64% các hình thức hoạt động du lịch của địa phương, sở hữu nhiều tài nguyên tự nhiên như cồn Ốc, cồn Tiên, cồn Hưng Phong, cồn Phụng (cồn Ông Đạo Dừa), sân chim Vàm Hồ, vùng cây trái Cái Mơn, bãi biển Thừa Đức Bình Đại, bãi Ngao, cùng hệ thống di tích lịch sử và văn hóa phong phú (Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu tại Ba Tri, chùa Hội Tôn, chùa Tuyên Linh, chùa Viên Minh, lăng mộ các danh nhân Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thị Định, Trương Vĩnh Ký). Mặc dù có tiềm năng tự nhiên và văn hóa đặc thù vùng sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), phần lớn các cơ sở và doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, phân tán, thiếu sự liên kết hệ thống, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, sản phẩm chưa đa dạng, phương thức tổ chức lạc hậu và chưa định vị được thương hiệu riêng trên thị trường. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận năng lực cạnh tranh (NLCT) ở cấp độ quốc gia, cấp độ điểm đến hoặc tại các trung tâm đô thị lớn, chưa có công trình nào đi sâu kiểm định mô hình định lượng các yếu tố tác động đến NLCT ở cấp độ doanh nghiệp du lịch tại một địa phương mang đặc trưng sinh thái sông nước nông thôn như Bến Tre.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch tại Bến Tre, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao NLCT trong giai đoạn tiếp theo.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được tác giả xác định gồm 6 mục tiêu:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre gắn với đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của địa phương.
- Điều chỉnh, bổ sung để phát triển thang đo thuộc các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch, trường hợp tỉnh Bến Tre.
- Kiểm định mức độ ảnh hưởng và vị thế của từng yếu tố này đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre.
- Kiểm định sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre theo quy mô và loại hình.
- Phân tích thực trạng NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre dựa trên các yếu tố và lý giải nguyên nhân tác động của các yếu tố này.
- Tập hợp kết quả phân tích từ đo lường mức độ ảnh hưởng kết hợp với phân tích thực trạng và nguyên nhân của từng yếu tố ảnh hưởng; đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao NLCT và phát triển bền vững cho doanh nghiệp du lịch tại Bến Tre trong thời gian tới.
Tương ứng với các mục tiêu trên, luận án đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre gắn với đặc thù của địa phương?
- Thang đo nào thuộc các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch: trường hợp tỉnh Bến Tre?
- Mức độ và vị thế ảnh hưởng của các yếu tố đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre như thế nào?
- Có sự khác biệt hay không về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre theo quy mô và loại hình?
- Thực trạng và nguyên nhân về các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre là gì?
- Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng và thực trạng - nguyên nhân của các yếu tố ảnh hưởng; giải pháp cụ thể nào nhằm nâng cao NLCT và phát triển bền vững cho doanh nghiệp du lịch tại Bến Tre trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch tỉnh Bến Tre.
- Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Bến Tre; các chuyên gia phỏng vấn là giám đốc, phó giám đốc hoặc người được ủy quyền điều hành có kinh nghiệm làm việc trong ngành du lịch tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bến Tre.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2009 - 2014 từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre; dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra sơ bộ năm 2013 - 2014 và khảo sát chính thức vào cuối năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm luận các luồng nghiên cứu liên quan đến NLCT của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trong ngành du lịch, dịch vụ nói riêng ở cả phạm vi quốc tế và trong nước.
Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
- Ho (2005) nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp và NLCT thông qua 5 khía cạnh (cơ cấu hội đồng quản trị, cương vị quản lý, chiến lược lãnh đạo, sở hữu tập trung và quan hệ vốn - thị trường, trách nhiệm xã hội) trên mẫu các công ty thuộc danh sách Fortune 500 và Business Week 1000. Nghiên cứu chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp tác động tích cực đến NLCT, song chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp lớn tại các quốc gia phát triển mà chưa xét đến các yếu tố cạnh tranh dịch vụ đặc thù.
- Craigwell (2007) khảo sát 45 hòn đảo du lịch nhỏ đang phát triển tại Mỹ, chỉ ra 7 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT bao gồm cạnh tranh về giá cả, nhân lực du lịch, cơ sở hạ tầng, môi trường, công nghệ, sự cởi mở và các khía cạnh xã hội; trong đó cạnh tranh giá là yếu tố tác động mạnh nhất. Tuy nhiên, công trình chưa xác lập rõ mối quan hệ nhân quả và chưa phân tích sâu chất lượng sản phẩm dịch vụ đặc thù.
- Mechinda và cộng sự (2010) sử dụng mô hình hồi quy nghiên cứu khu du lịch Koh Chang (Thái Lan), xác định 12 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT: quản lý môi trường điểm đến, chất lượng dịch vụ, di sản văn hóa và khách sạn địa phương, cơ sở hạ tầng, mua sắm và giải trí về đêm, tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động, giá cả cạnh tranh, thức ăn, sự sạch sẽ, an toàn, vị trí.
- Tsai, Song và Wong (2009) tổng hợp 16 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của điểm đến du lịch và 15 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của khách sạn (như nguồn nhân lực, công nghệ, chiến lược, năng suất, vốn, chất lượng dịch vụ, thương hiệu, tiếp thị, giá cả, quản lý quy trình), song chưa xây dựng được mô hình tích hợp chung cho doanh nghiệp du lịch gắn với bối cảnh địa phương cụ thể.
- Williams và Hare (2012) phân tích các yếu tố tác động đến khách sạn nhỏ tại Jamaica gồm sự đổi mới, thương hiệu, năng lực tổ chức quản lý, điều kiện môi trường, chất lượng dịch vụ, kiến thức ngành và khả năng thích ứng, nhưng chưa lượng hóa được mức độ tác động bằng mô hình thực nghiệm.
- Chang và cộng sự (2007) xác định 7 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của các cửa hàng tại Đài Loan (chiến lược kinh doanh, năng lực tài chính, cơ sở vật chất, sản phẩm hàng hóa, chất lượng dịch vụ, marketing, nguồn nhân lực), nhưng chưa xem xét tác động từ môi trường bên ngoài và chưa phân biệt ranh giới sản phẩm hàng hóa - dịch vụ.
- Ambastha và Momaya (2004) đề xuất khung phân tích 3P (Assets - Nguồn lực, Processes - Quy trình, Performance - Hiệu suất). Lee và King (2009) áp dụng kỹ thuật Delphi nghiên cứu suối nước nóng tại Đài Loan với 3 nhóm yếu tố (nguồn tài nguyên, chiến lược, môi trường) gồm 21 yếu tố và 76 biến quan sát. Ivanovic, Mikinac và Perman (2011) nghiên cứu việc ứng dụng CRM trong doanh nghiệp du lịch để gia tăng vị thế cạnh tranh.
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước:
- Nguyễn Cao Trí (2011) phân tích thực trạng NLCT của các doanh nghiệp du lịch Thành phố Hồ Chí Minh qua 10 nhóm yếu tố (cơ sở vật chất, tổ chức quản lý, hệ thống thông tin, nhân sự, thị trường, marketing, vốn, cạnh tranh nội bộ ngành, chủ trương chính sách, bài học thành công). Nghiên cứu chủ yếu dùng phương pháp thống kê mô tả, chưa khảo sát mô hình cấu trúc lượng hóa mức độ tác động và mối quan hệ giữa các nhân tố.
- Trần Bảo An và cộng sự (2012) chỉ ra 4 nhân tố tạo nên NLCT của các khách sạn 4 sao tại Thừa Thiên Huế: uy tín và hình ảnh, các phối thức marketing, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ tổ chức và phục vụ khách hàng, nhưng chưa kiểm định tương tác hệ thống giữa các yếu tố.
- Các nghiên cứu của Nguyễn Duy Mậu (2011) về du lịch Tây Nguyên và Mai Thị Ánh Tuyết (2006) về du lịch tỉnh An Giang tập trung vào góc độ quy hoạch phát triển vùng đến năm 2020. Nguyễn Bách Khoa (2004), Nguyễn Vĩnh Thanh (2000, 2005), Nguyễn Thị Cành và Đoàn Thị Hồng Vân (2005) làm rõ các khía cạnh nguồn nội lực, thị phần và năng lực quản lý của doanh nghiệp Việt Nam.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây hoặc thuần túy định tính mô tả, hoặc hồi quy tuyến tính cổ điển, chưa lượng hóa đồng thời mối quan hệ đa biến và tính chất phức hợp của NLCT cấp độ doanh nghiệp du lịch trong mối liên hệ hữu cơ với điều kiện môi trường điểm đến tại một địa phương nông nghiệp, sông nước miệt vườn như Bến Tre. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, tích hợp các yếu tố nội tại của doanh nghiệp và yếu tố môi trường điểm đến đặc thù.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án kế thừa và tổng hợp 5 nhóm trường phái lý thuyết lớn về NLCT:
- Trường phái lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1980, 1985, 1990): Bao gồm mô hình 5 áp lực cạnh tranh (đối thủ cạnh tranh hiện tại, đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, quyền thương lượng của nhà cung ứng, quyền thương lượng của khách hàng); 3 chiến lược cạnh tranh tổng quát (chi phí thấp nhất, khác biệt hóa, tập trung); và chuỗi giá trị gồm 5 hoạt động cơ bản (hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, marketing - bán hàng, dịch vụ) cùng 4 hoạt động bổ trợ (hạ tầng quản lý, quản trị nhân lực, phát triển công nghệ, thu mua).
- Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) và năng lực cốt lõi: Tiếp cận của Barney (1991, 2001), Grant (1991), Prahalad và Hamel (1990), Man, Lau và Chan (2002) phân định nguồn lực hữu hình (tài chính, công nghệ, cơ sở vật chất) và nguồn lực vô hình (con người, thương hiệu, danh tiếng); kết hợp lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) của Teece và cộng sự (1997).
- Quan điểm quản trị chiến lược: Cách tiếp cận của David, Thompson và Strickland (trích từ Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005), cùng Chiến lược Đại dương xanh của W. Chan Kim và Renée Mauborgne (2005/2007) về việc tạo lập không gian thị trường mới và phá vỡ sự đánh đổi giữa chi phí và giá trị.
- Quan điểm định hướng thị trường: Mô hình của Kohli và Jaworski (1990), Narver và Slater (1990) gồm 3 thành phần (định hướng khách hàng, định hướng đối thủ cạnh tranh, sự phối hợp liên chức năng), và tiếp cận của Gray và Hooley (2002).
- Quan điểm dựa trên quá trình quản lý: Mô hình của Buckley và cộng sự (1988) tích hợp 3 trụ cột có quan hệ tương hỗ: Tiềm năng, Quá trình quản lý và Kết quả hoạt động.
- Lý thuyết năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: Các khung phân tích của Crouch và Ritchie (1999, 2003), Dwyer và Kim (2003), Hassan (2000), d'Hartserre (2000), Val và Sec (2015), Bernini (2009) giải thích mối liên kết tương hỗ giữa sức hấp dẫn của điểm đến và NLCT của doanh nghiệp lưu trú, dịch vụ tại địa phương.
Từ các cơ sở lý luận trên, tác giả đưa ra định nghĩa đề xuất: "NLCT của doanh nghiệp du lịch là khả năng của doanh nghiệp có thể tạo ra và tích hợp giá trị gia tăng của các sản phẩm – dịch vụ nhằm duy trì nguồn lực của mình, đảm bảo hiệu quả về mặt tài chính, giữ vững vị trí trên thị trường, ổn định và phát triển bền vững trong tương lai. NLCT của các doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: khả năng cạnh tranh về giá; chất lượng sản phẩm, dịch vụ; năng lực marketing; năng lực tổ chức, quản lý; thương hiệu; nguồn nhân lực; trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; điều kiện môi trường điểm đến tại địa phương".
Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 8 yếu tố tác động đến biến phụ thuộc (NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre):
- Cạnh tranh về giá
- Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
- Năng lực marketing
- Năng lực tổ chức, quản lý
- Thương hiệu
- Nguồn nhân lực
- Trách nhiệm xã hội
- Điều kiện môi trường điểm đến (khái niệm bậc hai gồm 3 thành phần: Cơ chế chính sách; Người dân địa phương; Môi trường tự nhiên).
Về thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án áp dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) qua 3 giai đoạn chặt chẽ:
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành nghiên cứu tài liệu kết hợp kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia (15 người là cán bộ quản lý, giám đốc doanh nghiệp du lịch) và thảo luận nhóm qua 2 đợt. Đợt 1 (tháng 8 - 9/2014) nhằm xác định mô hình nghiên cứu. Đợt 2 (tháng 9 - 10/2014) nhằm hoàn thiện thang đo và biến quan sát cụ thể cho địa bàn Bến Tre.
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Thực hiện khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết đo bằng thang điểm Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Mẫu điều tra sơ bộ gồm 244 đối tượng được chọn theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên tại Bến Tre, triển khai từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2014. Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 để đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA - Exploratory Factor Analysis), từ đó hiệu chỉnh bảng hỏi chính thức.
- Nghiên cứu định lượng chính thức: Thực hiện khảo sát mẫu ngẫu nhiên với kích thước 359 đối tượng là các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch tại Bến Tre từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2014. Kỹ thuật phân tích dữ liệu gồm: Phân tích nhân tố khẳng định (CFA - Confirmatory Factor Analysis) để kiểm tra độ giá trị hội tụ, độ tin cậy tổng hợp và giá trị phân biệt; Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM - Structural Equation Modeling) trên phần mềm AMOS/SPSS 20.0 để kiểm định các giả thuyết; Kiểm định Bootstrap với N = 500 mẫu lặp để kiểm tra tính bền vững của các ước lượng; Phân tích đa nhóm để kiểm tra sự khác biệt theo quy mô và loại hình doanh nghiệp.
| Bước nghiên cứu |
Phương pháp / Công cụ |
Cỡ mẫu (N) |
Thời gian thực hiện |
Mục đích chính |
| 1. Định tính |
Phỏng vấn chuyên gia, thảo luận nhóm (2 đợt) |
15 chuyên gia |
Tháng 8 - 10/2014 |
Hoàn thiện mô hình, điều chỉnh biến quan sát |
| 2. Định lượng sơ bộ |
Bảng câu hỏi Likert 5 mức độ, Cronbach's Alpha, EFA (SPSS 20.0) |
244 mẫu |
Tháng 10 - 11/2014 |
Đánh giá độ tin cậy thang đo, gạn lọc biến quan sát |
| 3. Định lượng chính thức |
Bảng câu hỏi chính thức, CFA, SEM, Bootstrap (SPSS 20.0, AMOS) |
359 mẫu (Bootstrap N = 500) |
Tháng 11 - 12/2014 |
Kiểm định thang đo, mô hình cấu trúc, kiểm định đa nhóm |
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản chính sách, quy hoạch du lịch tỉnh Bến Tre đến năm 2020, số liệu báo cáo lượt khách, doanh thu du lịch giai đoạn 2011 - 2015, lao động và kinh phí đầu tư hạ tầng du lịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre.
- Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu điều tra bảng hỏi từ hai đợt khảo sát N = 244 và N = 359 cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bến Tre cùng biên bản phỏng vấn sâu 15 chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 giới thiệu lý do chọn đề tài dựa trên tiềm năng du lịch miệt vườn của Bến Tre (loại hình này chiếm 64% các hoạt động du lịch toàn tỉnh) trong bối cảnh du lịch Việt Nam tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả chỉ ra thực trạng phần lớn doanh nghiệp du lịch địa phương có quy mô nhỏ, manh mún, thiếu liên kết, hạ tầng yếu kém. Từ đó, xác định 6 mục tiêu cụ thể, 6 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre, đối tượng khảo sát là các cơ sở kinh doanh du lịch và nhà quản lý trên địa bàn tỉnh. Chương này cũng phác thảo quy trình nghiên cứu hỗn hợp 3 bước, chỉ rõ phạm vi thời gian dữ liệu thứ cấp (2009 - 2014), dữ liệu sơ cấp (2013 - 2014), kết cấu luận án gồm 5 chương cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày có hệ thống các định nghĩa và quan điểm lý thuyết về NLCT cấp độ doanh nghiệp: quan điểm lợi thế cạnh tranh của Porter (mô hình 5 áp lực cạnh tranh, 3 chiến lược chung, chuỗi giá trị); quan điểm dựa trên nguồn lực và năng lực cốt lõi (Barney, Grant, Prahalad & Hamel, Man et al.); lý thuyết năng lực động (Teece et al.); quan điểm quản trị chiến lược và Chiến lược Đại dương xanh; quan điểm định hướng thị trường (Kohli & Jaworski, Narver & Slater); và quan điểm quá trình quản lý (Buckley et al.). Chương này phân tích mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa NLCT của doanh nghiệp du lịch và năng lực cạnh tranh của điểm đến (Crouch & Ritchie, Dwyer & Kim, Hassan, Val & Sec). Sau khi tổng kết các mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu chính thức gồm 8 yếu tố tác động đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre: Cạnh tranh về giá; Chất lượng sản phẩm, dịch vụ; Năng lực marketing; Năng lực tổ chức, quản lý; Thương hiệu; Nguồn nhân lực; Trách nhiệm xã hội; và Điều kiện môi trường điểm đến.
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chương 3 thiết lập chi tiết quy trình nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu 15 chuyên gia và thảo luận nhóm 2 đợt giúp điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống thang đo và thiết kế phiếu khảo sát sơ bộ. Nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu N = 244 được tiến hành để kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA trên phần mềm SPSS 20.0, giúp loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu. Tiếp đó, tác giả hoàn thiện thang đo chính thức và thiết kế bảng câu hỏi khảo sát chính thức. Quy trình nghiên cứu định lượng chính thức được xây dựng chặt chẽ với phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM trên phần mềm AMOS, sử dụng kỹ thuật Bootstrap với cỡ mẫu lặp N = 500 để kiểm tra tính bền vững của các ước lượng và phân tích đa nhóm nhằm kiểm định sự khác biệt theo quy mô và loại hình doanh nghiệp.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4 tập trung trình bày các kết quả thực nghiệm và phân tích thực trạng. Trên mẫu khảo sát chính thức N = 359:
- Kết quả CFA cho từng thang đo riêng lẻ (năng lực marketing, thương hiệu, năng lực tổ chức quản lý, trách nhiệm xã hội, chất lượng sản phẩm dịch vụ, nguồn nhân lực, cạnh tranh về giá, điều kiện môi trường điểm đến gồm 3 thành phần cơ chế chính sách, người dân địa phương, môi trường tự nhiên, và thang đo NLCT) cùng kết quả CFA mô hình tới hạn đều đạt độ tin cậy tổng hợp, phương sai trích và tính phân biệt theo chuẩn thống kê.
- Kiểm định mô hình SEM khẳng định mối quan hệ nhân quả của các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả ước lượng mô hình SEM chuẩn hóa cho thấy các yếu tố đều có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre. Kỹ thuật Bootstrap với N = 500 khẳng định độ chệch của các ước lượng là không đáng kể, chứng minh mô hình có độ tin cậy và tính bền vững cao.
- Kiểm định phân tích đa nhóm chỉ ra sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến NLCT theo quy mô doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp.
- Kết hợp với phân tích định lượng, tác giả đánh giá chi tiết thực trạng giai đoạn 2011 - 2015: Tổng lượt khách đến Bến Tre tăng trưởng qua các năm (Bảng 4.23) và doanh thu du lịch có xu hướng tăng (Bảng 4.24); đồng thời phân tích thực trạng từng biến số: lao động ngành du lịch còn thiếu kỹ năng chuyên nghiệp (Bảng 4.25, 4.26); chất lượng sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu (Bảng 4.27); cơ chế chính sách và chi phí đầu tư hạ tầng du lịch chưa đáp ứng yêu cầu (Bảng 4.28, 4.29); sự tham gia của người dân và bảo vệ môi trường tự nhiên (Bảng 4.30, 4.31); vấn đề cạnh tranh giá và cảm nhận của khách du lịch (Bảng 4.32, 4.33); năng lực tổ chức quản trị (Bảng 4.34); công tác marketing và tỷ lệ du khách quay lại/giới thiệu (Bảng 4.35, 4.36); thực trạng xây dựng thương hiệu và thực hiện trách nhiệm xã hội của các đơn vị (Bảng 4.37, 4.38).
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP
Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao NLCT cho doanh nghiệp du lịch Bến Tre đến năm 2020. Căn cứ vào trọng số hồi quy chuẩn hóa gamma từ mô hình SEM so với mức ảnh hưởng trung bình (1/8 yếu tố = 0,125), tác giả phân chia giải pháp thành 2 nhóm lớn:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn đến NLCT với trọng số $\gamma > 0,150$.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện các yếu tố có mức độ ảnh hưởng không lớn đến NLCT với trọng số $\gamma < 0,150$.
Chương này cũng đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với Nhà nước và chính quyền tỉnh Bến Tre về phát triển các tuyến du lịch miệt vườn, phát huy các làng nghề truyền thống, khai thác các điểm du lịch đặc trưng, ứng dụng công cụ Thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) trong quản trị chiến trị kinh doanh, đồng thời chỉ rõ những đóng góp chính, các hạn chế của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết về NLCT cấp độ doanh nghiệp trong ngành du lịch, dung hợp các trường phái tiếp cận từ cấu trúc ngành (Porter), năng lực nội sinh (RBV, năng lực động), định hướng thị trường đến quá trình quản lý.
- Đã điều chỉnh, bổ sung và kiểm định thành công bộ thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch tại vùng nông thôn, sinh thái sông nước ĐBSCL.
- Xác lập được mô hình cấu trúc tuyến tính SEM chứng minh vai trò đa chiều của 8 yếu tố, trong đó chỉ ra yếu tố "Điều kiện môi trường điểm đến" là nhân tố bậc hai cấu thành từ 3 thành phần (cơ chế chính sách, người dân địa phương, môi trường tự nhiên), khẳng định tính phụ thuộc chặt chẽ giữa doanh nghiệp du lịch và môi trường điểm đến nơi doanh nghiệp hoạt động.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng hoạt động kinh doanh, cơ cấu lao động, hạ tầng kỹ thuật và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch Bến Tre giai đoạn 2011 - 2015.
- Đề xuất hệ thống giải pháp có cơ sở khoa học dựa trên mức độ tác động định lượng của từng yếu tố, chia tách theo ngưỡng trọng số $\gamma > 0,150$ và $\gamma < 0,150$, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện quy mô vốn và nhân lực hạn chế.
- Cung cấp cơ sở thực chứng giá trị cho các cơ quan hoạch định chính sách tại tỉnh Bến Tre trong việc điều chỉnh quy hoạch du lịch đến năm 2020, hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông đường thủy - bộ, kết nối các tuyến du lịch sinh thái và phát triển các sản phẩm đặc trưng từ cây dừa cùng các làng nghề thủ công truyền thống.
| Nhóm giải pháp |
Tiêu chí phân loại theo trọng số SEM |
Định hướng can thiệp trọng tâm |
| Nhóm 1: Yếu tố ảnh hưởng lớn |
Trọng số hồi quy chuẩn hóa $\gamma > 0,150$ (so với mức trung bình 1/8 = 0,125) |
Tập trung ưu tiên nguồn lực cao nhất để hoàn thiện các yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến NLCT của doanh nghiệp |
| Nhóm 2: Yếu tố ảnh hưởng không lớn |
Trọng số hồi quy chuẩn hóa $\gamma < 0,150$ (so với mức trung bình 1/8 = 0,125) |
Tiếp tục duy trì, cải thiện và phối hợp đồng bộ để củng cố các yếu tố nền tảng, tạo sự cộng hưởng gia tăng NLCT tổng thể |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được tác giả chỉ ra trong văn bản:
- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian chỉ tập trung thực hiện trên địa bàn tỉnh Bến Tre, do đó tính đại diện và khả năng khái quát hóa kết quả cho các vùng du lịch khác có điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội khác biệt (như du lịch đô thị lớn, du lịch biển đảo cao cấp hay du lịch vùng cao) còn chịu sự giới hạn nhất định.
- Đối tượng khảo sát sơ cấp chủ yếu tập trung vào các nhà quản lý, người điều hành tại các doanh nghiệp và cơ sở du lịch; góc nhìn từ phía khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương mới chỉ được phản ánh thông qua các bảng thống kê thứ cấp và thang đo cảm nhận gián tiếp, chưa được điều tra song song với quy mô mẫu độc lập trong cùng mô hình cấu trúc.
- Mô hình chỉ tập trung kiểm định 8 yếu tố then chốt, chưa đưa vào một số biến số phát sinh từ sự biến động nhanh chóng của môi trường vĩ mô và sự phát triển của công nghệ thông tin trong các giai đoạn hội nhập tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm ra toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hoặc thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh (comparative study) giữa các tỉnh có mô hình du lịch sinh thái tương đồng như Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ để kiểm định tính ổn định của thang đo.
- Thực hiện khảo sát đa đối tượng đồng thời (kết hợp lấy mẫu từ nhà quản lý doanh nghiệp, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương) nhằm tạo lập góc nhìn đa chiều về chất lượng sản phẩm dịch vụ và giá trị thương hiệu.
- Đưa thêm các biến điều tiết (moderating variables) hoặc biến trung gian mới như mức độ ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu, tác động của biến đổi khí hậu và hiện tượng xâm nhập mặn đặc thù tại ĐBSCL vào mô hình nghiên cứu NLCT.
Giá trị tham khảo
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cụ thể đối với các nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh và Du lịch học: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình thiết kế nghiên cứu phương pháp hỗn hợp, cách xây dựng thang đo Likert, kỹ thuật kiểm định mô hình hai giai đoạn kết hợp EFA, CFA, SEM và kiểm định Bootstrap trên phần mềm SPSS và AMOS. Hệ thống thang đo các yếu tố tác động đến NLCT trong Chương 3 là cơ sở đáng tin cậy để kế thừa.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp khung lý thuyết đa diện tích hợp giữa lý thuyết quản trị chiến lược doanh nghiệp và lý thuyết cạnh tranh điểm đến du lịch, làm học liệu phục vụ giảng dạy các môn Quản trị chiến lược, Marketing dịch vụ và Phương pháp nghiên cứu khoa học.
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch tại Bến Tre và vùng ĐBSCL: Số liệu phân tích thực trạng tại Chương 4 và hệ thống giải pháp phân nhóm theo trọng số tại Chương 5 là căn cứ thực tế giúp lãnh đạo doanh nghiệp định vị lại điểm mạnh, điểm yếu, tái cơ cấu hoạt động quản trị, áp dụng Thẻ điểm cân bằng và tập trung đầu tư đúng trọng tâm.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Các bảng số liệu thống kê và kiến nghị tại Chương 5 cung cấp luận cứ thực chứng giúp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp du lịch, hoàn thiện hạ tầng, quy hoạch tuyến điểm và bảo tồn tài nguyên sinh thái.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án xác định mô hình nghiên cứu gồm bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre?
Trả lời: Luận án xác định 8 yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp du lịch Bến Tre gồm: (1) Cạnh tranh về giá; (2) Chất lượng sản phẩm, dịch vụ; (3) Năng lực marketing; (4) Năng lực tổ chức, quản lý; (5) Thương hiệu; (6) Nguồn nhân lực; (7) Trách nhiệm xã hội; và (8) Điều kiện môi trường điểm đến (là biến bậc hai gồm 3 thành phần: Cơ chế chính sách, Người dân địa phương, và Môi trường tự nhiên).
-
Quy mô mẫu và công cụ phần mềm được sử dụng trong các bước nghiên cứu định lượng của luận án là gì?
Trả lời: Nghiên cứu định lượng sơ bộ khảo sát 244 đối tượng, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích Cronbach's Alpha và EFA. Nghiên cứu định lượng chính thức khảo sát 359 đối tượng, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và AMOS để phân tích CFA, SEM, kiểm định Bootstrap với N = 500 mẫu lặp và phân tích đa nhóm.
-
Tiêu chí định lượng nào được tác giả sử dụng để phân chia các nhóm giải pháp trong Chương 5?
Trả lời: Tác giả căn cứ vào hệ số hồi quy chuẩn hóa gamma từ mô hình SEM so với mức ảnh hưởng trung bình của các yếu tố (1/8 yếu tố = 0,125). Nhóm 1 gồm các giải pháp hoàn thiện các yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn với trọng số $\gamma > 0,150$. Nhóm 2 gồm các giải pháp hoàn thiện các yếu tố có mức độ ảnh hưởng không lớn với trọng số $\gamma < 0,150$.
-
Nghiên cứu định tính trong luận án được tổ chức như thế nào và phục vụ mục tiêu gì?
Trả lời: Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn chuyên sâu 15 chuyên gia (gồm giám đốc, phó giám đốc, nhà quản lý doanh nghiệp du lịch) kết hợp thảo luận nhóm qua 2 đợt: Đợt 1 (tháng 8 - 9/2014) nhằm xác lập mô hình nghiên cứu lý thuyết; Đợt 2 (tháng 9 - 10/2014) nhằm hoàn thiện thang đo và hiệu chỉnh các biến quan sát cho phù hợp với thực tế địa phương trước khi khảo sát sơ bộ.
-
Loại hình hoạt động du lịch nào chiếm ưu thế lớn nhất tại Bến Tre theo ghi nhận của tác giả?
Trả lời: Luận án ghi nhận du lịch sinh thái miệt vườn là loại hình chiếm ưu thế vượt trội, chiếm 64% các hình thức hoạt động du lịch của tỉnh Bến Tre nhờ khai thác hệ sinh thái sông nước, vườn dừa, cồn bãi và các vườn cây ăn trái đặc trưng của địa phương.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Long đã thực hiện quy trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ, kết hợp phương pháp định tính và định lượng chính quy để nhận diện và đo lường các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch Bến Tre. Thông qua kỹ thuật phân tích CFA, SEM và kiểm định Bootstrap trên mẫu khảo sát thực tế, công trình đã xác lập được mô hình cấu trúc 8 yếu tố và chỉ rõ mối quan hệ giữa năng lực nội tại của doanh nghiệp với điều kiện môi trường điểm đến. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp phân nhóm theo trọng số tác động là nguồn tài liệu tham khảo học thuật có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào tạo và quản trị thực tiễn ngành du lịch tại địa phương.