Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Năng lực của cán bộ UBND cấp xã Năng lực cán bộ UBND cấp xã là một thuật ngữ được hình thành bởi nhiều yếu tố và tương đối phức tạp về mặt ngữ, nghĩa. Do vậy, để đưa ra được khái niệm phù hợp, cần thiết phải làm rõ các thuật ngữ sau. * Năng lực “Năng lực” theo tiếng Anh là Ability, được hiểu là “khả năng làm việc tốt”.
Theo Phòng ngôn ngữ Pháp, năng lực là “tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện thành công một nhiệm vụ nào đó”. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thì năng lực có nghĩa là “khả năng, điều kiện chủ quan ho¾c tự nhiên có thể thực hiện một công việc nào đó”. Năng lực của mỗi con người, theo Mác-Ăngghen, chính là sức mạnh vốn có hoặc do học tập và rèn luyện, tu dưỡng dưới dạng tiềm năng, mang tính chủ quan kết hợp với những lực lượng vật chất khơi dậy tiềm năng sức mạnh đó của mỗi con người hay tập thể con người hướng vào mục tiêu đã xác định. Năng lực là biểu hiện trình độ, tri thức, kỹ năng của con người trong hoạt động thực tiễn.
Năng lực là tổng hợp những thuộc tính tâm lý, tố chất của cá nhân phù hợp với yêu cầu hoạt động tổ chức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có. Vì thế, năng lực là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của Mỹ, năng lực được hiểu là đ¾c tính có thể đo lường được của kiến thúc, kỹ năng, thái độ và các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ.
7 Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó”.[30] Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, năng lực là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[56] Theo nhà nghiên cứu Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy.”[52] Theo cách hiểu của Đặng Thành Hưng: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”[22] Theo cuốn “Thuật ngữ hành chính” của Học viện Hành chính quốc gia thì “Năng lực là khả năng của cá nhân giúp họ có thể thực hiện một hoạt động nào đó trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả”. Năng lực là một thuật ngữ mang tính đa nghĩa. Trong tâm lý học có hai hướng tiếp cận vấn đề năng lực: tiếp cận nội sinh và tiếp cận hoạt động. Theo hướng nội sinh, thì cho rằng khả năng hoạt động của cá nhân là sự bộc lộ và phát triển những yếu tố có tính bẩm sinh, được quyết định bởi yếu tố di truyền sinh học.
Theo hướng thú hai, năng lực là một tổ hợp tâm lý của chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu của một hoạt động nào đó, chúng được hình thành, phát triển trong quá trình sống và hoạt động của cá nhân. Từ những quan điểm, thuật ngữ nêu trên, theo tác giả thì năng lực là tập hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của một cá nhân được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao trong công việc mà cá nhân đó đảm nhiệm, phụ trách. Năng lực được xem như một yêu cầu quan trọng và 8 thiết yếu để một cá nhân đảm nhận công việc nhất định có thể thực hiện được công việc của họ. Hiểu một cách khác, năng lực chính là những đòi hỏi thấp nhất về mặt kiến thức, kỹ năng và phẩm chất mà một cá nhân cần có để thể hiện những hành vi cần thiết khi đảm nhận công việc nhằm để thực hiện có hiệu quả cao các nhiệm vụ được giao.
Trong khu vực công, năng lực được nhìn nhận là các yếu tố giúp công chức, viên chức thực thi nhiệm vụ với sự hài lòng của người dân và tổ chức. * Cán bộ UBND cấp xã - Cán b : Khái niệm Cán bộ có nội hàm rộng, với nhiều cách tiếp cận theo phạm vi, đối tượng nghiên cứu, xung quanh khái niệm này vẫn còn có những ý kiến khác nhau giữa các chuyên gia, nhà nghiên cứu và các cán bộ lãnh đạo, quản lý. Từ “Cán bộ” được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều từ điển có khái niệm "cán bộ" nhưng tựu chung lại có thể quan niệm một cách chung nhất: "Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức". Trong Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 1999, cán bộ có nghĩa như sau: Thú nhất, cán bộ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, trong hệ thống chính trị (HTCT), để phân biệt với người không phải là công chức, viên chức Nhà nước.
Thú hai, là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt với người không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm. [57] 9 Trong cuốn Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH - do PGS,TS.
Nguyễn Phú Trọng và PGS, TS. Trần Xuân Sầm chủ biên quan niệm rằng: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức. Trong Từ điển Tiếng Việt, từ “cán bộ” có nghĩa là: “Người làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và Đoàn thể. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”.
Hiện nay, khái niệm cán bộ được sử dụng thông dụng nhất là căn cứ vào Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008. Theo đó, cán bộ cần có những đặc điểm sau: + Phải là công dân Việt Nam. Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 quy định “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”. Mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam.
Như vậy, điều kiện đầu tiên để có thể trở thành cán bộ là người đó phải là công dân có quốc tịch Việt Nam. Điều này có ý nghĩa quan trọng đến vấn đề an ninh, quốc phòng bởi lẽ bộ máy nhà nước của một quốc gia là cơ quan đầu não, thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước quyết định những vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một nước. + Được hình thành thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó mà những người thay mặt nhân dân quản lí nhà nước ngoài việc đáp ứng đủ những điều kiện luật định về độ tuổi cũng như năng lực còn phải là những người được nhân dân tin tưởng lựa chọn thông qua bầu cử.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong quản lí 10 hành chính nhà nước - nhân dân lao động tham gia vào quản lí hành chính nhà nước. Phê chuẩn được hình thành trong trường hợp cơ quan tổ chức có thẩm quyền chấp nhận giao cho công dân giữ một chức vụ, chức danh nhất định theo quyết định của một cơ quan, tổ chức xã hội. Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lí hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật. Việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước được thực hiện theo Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội.
+ Làm việc theo nhiệm kì, nằm trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Pháp luật có quy định cán bộ trong các cơ quan tổ chức nhà nước làm việc theo nhiệm kì và được nằm trong biên chế nhà nước – biên chế trong các cơ quan nhà nước là số người làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và làm kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm. Do cán bộ làm việc cho các tổ chức, cơ quan nhà nước, cống hiến toàn bộ thời gian làm việc của mình để phục vụ lợi ích của nhà nước vì thế nhà nước phải chịu trách nhiệm về vấn đề lương bổng đối với họ. Theo quan điểm của tác giả thì “Cán bộ” là công dân của Việt Nam, được bầu cử và phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương, làm việc trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
- Cấp xã và UBND cấp xã: Cấp xã là tên gọi chung của các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, là đơn vị hành chính cơ sở gồm xã, phường, thị trấn. Ở các huyện ngoại thành không có phường nên chỉ có đơn vị hành chính và cấp chính quyền được gọi là xã, thị trấn.