Chương 1 cũng đã trình bày sơ lược về tỉnh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Đây là cơ sở để tác giả so sánh các lý thuyết nền tảng liên quan đến TTT và HĐĐT, từ đó định hướng và đề xuất mô hình nghiên cứu phủ hợp cho đi 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUAN THU THUÊ VA HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ. Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế 2. Khái niệm tuân thủ thuế: “Thuế là một khoản phí mà người ân phải nộp bắt buộc cho chính phủ mà không phải trả lại trực tiếp cho NNT (Parameswaran, 2005).
Các chính phủ đánh thuế vì nhiều mục đích, nhưng chủ yếu là gây quỹ để trang trai các khoản chỉ tiêu công và. mặt khác để phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý. Thuế là nguồn thu chính của chính phi (Beza, 2014). “Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “tuân thủ thuế” tùy thuộc vào các góc độ nghiên cứu khác nhau.
Roth va céng sự (1989) đã định nghĩa TTT là tuân thủ các yêu cầu báo cáo, có nghĩa là NNT phải nộp tất cả các tờ khai thuế lược yêu cầu vào thời điểm thích hợp. và các tờ khai báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế theo mã doanh thu nội bộ, các quy định và quyết định của tòa án áp dụng tại thời điểm khai thuế được nộp. Một định nghĩa chính xác và nghiêm túc về TTT đến từ James va Alley (1999), Họ cho rằng TTT là sự sẵn sàng của các cá nhân vị tổ chức chịu thuế khác để hành động theo tinh thần cũng như văn bản của luật thuế và quản lý thuế mà không. cần áp dung các hoạt động thực thỉ.
Đây là một ví dụ điễn hình về cách tiếp cận pháp. lý trong việc xác định TTT. Lưu ÿ một đặc điểm thú vị của định nghĩa trên. Luật thuế được định nghĩa bao gồm cả cách nó được soạn thảo (văn bản của nó) và ý định cor 'bản của chính sách (tức là tinh thần của nó).
Điều này ngụ ý rằng tránh thuế (vi phạm. tinh thần của luật thuế) là không tuân thủ thuế. Tadesse va Goitom (2014) da dua ra một định nghĩa thay thế xem xét viée TTT về mặt chênh lệch thuế. Đây là sự khác biệt giữa nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân thực 13 sự và nghĩa vụ cuối cùng được thu trên cơ sở tự nguyện hoặc bằng biện pháp cưỡng chế, “Theo bảng chú giải của OECD, TTT là mức độ NNT tuân thủ (hoặc không tuân thủ) các quy định vẻ thuế của quốc gia mình, ví dụ bằng cách kê khai thu nhập, khai thuế và nộp thuế đúng hạn.
[Noi chung, tuân thủ có thể được hiểu là hành động theo quy định của pháp luật và không tuân thủ là sai lệch so với pháp luật. Dựa trên các định nghĩa nêu trên, có thể khái niệm một cách ngắn gọn về TTT, đó là mong muốn hoặc sự sẵn sảng của NNT để hành động theo quy định của pháp luật thuế và nỗ lực tự nguyện của họ để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đúng hạn. Phân loại tuân thủ thuế Việc phân loại hành vi TTT của NNT căn cứ vào các tiêu chí đánh giá khác nhau, tùy thuộc vao mục đích và vị trí nghiên cứu của những nhà nghiên cứu khác nhau. Một số tiêu chí phân loại thường được sử dụng được trình bày dưới đây.
Căn cứ vào tính chất tuân thủ. ‘Theo Center for Tax Policy and Administration (CTPA, 2001), TTT được chia thành 2 nhóm chính, đó là: tuân thủ hành chính và tuân thủ kỹ thuật. “Tuân thủ hành chính là việc NNT tuân thủ các quy tắc hành chính về việc kê khai và nộp thuế đúng hạn. Thông thường, các quy định liên quan đến xác định hành.
vi tuân thủ hành chính được thể hiện khá rõ rằng trong các văn bản luật. Việc xem xét, đánh gi ính tuân thủ các quy định hành chính của NNT thường đơn giản và rõ răng hơn. ‘Tuan thi ky thuật nghĩa là NNT phải tự tính toán và nộp các loại thuế được tính theo các yêu cầu kỹ thuật của pháp luật thuế. So với tuân thủ quy định hành chính, việc xác định tuân thủ kỹ thuật lại khá phức tap.
Rõ rằng, việc đo lường sự tuân thủ kỹ thuật phải bắt đầu bằng việc xác định đúng số thuế phải nộp. Do sự mơ hồ không hiểm gặp trong việc giải thích và áp dụng luật thuế, việc xác định số thuế chính xác. 4 có thể khác nhau rất nhiều, một phần tùy thuộc vào nền tảng, thành kiến trình độ kỹ năng của (những) NNT. Mặt khác, để đánh giá tí h tuân thủ kỹ thuật, cần phải nắm bất và có số liệu sát thực đối với hoạt động chịu thuế của NNT.
Căn cứ vào nội dung tuân thủ Mặc dù các nghĩa vụ chính xác đối với NNT sẽ thay đổi từ vai trở thuế này sang vai trò đánh thuế khác và từ khu vực tài phán này sang khu vực tài phán tiếp theo, bốn loại nghĩa vụ rộng có thể tồn tại đối với hầu hết mọi NNT, bat ké khu vực tải phán. "Tuân th cơ bản sẽ liên quan đến mức độ mà người đóng thuế đáp ứng các nghĩa vụ này. Bốn nghĩa vụ trụ cột này bao gdm: (i) Đăng ky thu; (ii) Khai thuế; (ii) Báo cáo thuế đầy đủ và chính xác (kết hợp lưu trữ hồ sơ tốt); iv) Nop thuế đúng hạn. Nếu NNT không đáp ứng bắt kỳ nghĩa vụ nào nêu trên thì họ có.
thé bị coi là không TTT đối với một nghĩa vụ thuế nhất định. Căn cứ vào hành vi tuân thủ Đối với hành vi tuân thủ, TTT được tiếp cân theo 2 hướng là tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc. Theo đó, sự tin tưởng ngày càng tăng vào các cơ quan chức. năng dẫn đến sự tuân thủ tự nguyên, trong khi việc nâng cao quyền lực của các cơ quan chức năng dẫn đến sự tuân thủ bắt buộc.
Điều quan trọng là, việc công dân tự. nguyện TTT - trên cơ sở tuân thủ, đúng và đủ đạo đức khi nộp thuế - có thể mang lại cho hệ thống thuế những lợi ích lâu đài trên phạm vĩ rộng: NNT ding ký với cơ quan. chức năng về thuế, khai thuế và nộp thuế đúng hạn, và các nghĩa vụ thuế được công. bố chính xác (OECD, 2014).
Kirchler (2007) va Kirchler, Hoelzl, và Wahl (2008) đã có gắng tích hợp các yếu tố kinh tế và tâm lý vào một khuôn khổ hai chiều toàn diện về hành vi tuân thủ. tự nguyện và bắt buộc thông qua Khung độ dốc trượt (Slippery Slope Framework - SSF), (Hinh 2.1) 15 TTT bit bude 'TTT tự nguyện Ê Sự hợp tác(TTT) Hình 2. Khung lý thuyết SSF (Nguôn: Kirchler, Hoelzl, va Wahl, 2008) 'Việc TTT tự nguyện phụ thuộc vào sự tin tưởng của NNT đối với CQT, trong khi việc thực thì TTT phụ thuộc vào quyền lực của co quan thuế, cụ thể là hiệu quả. của cơ quan thuế trong việc ngăn chăn đối tượng trốn thuế.
Do đó, sự tin tưởng (vào) và quyền lực (của) CQT là những yếu tố quyết định chí đối với mỗi hình thức tuân. Về cơ bản, CỌT có thể tăng cường TTT bằng cách chỉ tăng một trong hai yếu tổ này. Vẻ mặt trực quan, tác động tích cực của lòng tin. và quyền lực đối với việc TTT sẽ lớn hơn khi chúng ở mức thấp.
Quyền lực được thể hiện bằng các công cụ răn đe (hầu hết à kiểm toán và hình phat), trong khi ling tin phụ thuộc chủ yếu vào cách các cơ quan chức năng tiếp cận NNT: độ tin cậy của. CQT cảng cao thì sự tin tưởng của NNT vào công việc của họ cảng lớn. Đặc biệt, tin tưởng vào cơ quan thuế là cần thiết để thúc đây vả én định sự hợp tác tự nguyện của những NNT trung thực. Yếu tổ quyết định chính của việc TTT tự nguyện là sự hiện diện của các thi cao), chẳng hạn như tính công bằng và.
đơn giản của hệ thống thuế, hiệu quả và đô tin cậy của chính phủ, không có tham những, ít quy định hơn, tính minh bạch cao,. Căn cứ vào mức độ tuân thủ ‘Theo mé hinh cita Grabosky va Braithwaite năm 1986, toàn bộ NNT được chia thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ và cơ quan quản lý thuế có các biện pháp tương ứng đối với từng nhóm NNT này để đảm bảo sự TTT tốt nhất (Hình 2. Phân loại mức độ tuân thủ (Nguén: Grabosky va Braithwaite, 1986) Hình kim tự tháp nêu trên thể hiện chiến lược xử lý tuân thủ của CỌT. đó, cạnh bên trái của kim tự tháp thể hiện hành vi tuân thủ của NNT; cạnh ối xứng.
bên phải thể hiện nguyên tắc xử lý của CQT đối với hành vỉ tuân thủ. Mũi tên nằm trên đường trung tuyến thể hiện chiến lược xử lý của CQT nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của NNT. “Theo đó, toàn bộ NNT được chia thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ. Bốn nhóm này tương ứng với 4 mức độ thể hiện hành vi tuân thủ 'bên trái kim tự tháp, bao gồm: (1) Nhóm tự do không tuân thủ: Trên đỉnh kim tự tháp là thái độ buông thả.
Nó đặc trưng cho những người đã quyết định không tuân thủ. Những người có thái độ 7 này hoặc cổ tình trốn tránh trách nhiệm của họ h chọn từ chối. Sự hoài nghỉ về hệ. thống thuế thường được so sánh với sự hoài nghĩ về vai trỏ của chính phủ (2) Nhóm kháng cự: Thái độ phản kháng đặc trưng cho sự đối đầu tích cực.
Thái độ này đặc trưng cho những người không muốn tuân thủ nhưng sẽ tuân thủ nếu họ có. thể bị thuyết phục rằng mỗi quan tâm của ho dang được giải quyết. (3) Nhóm cố gắng: Tích cực hơn là thái độ của những người về cơ bản sẵn sảng. tuân thủ nhưng gặp khó khăn trong việc làm như vậy và không phải lúc nảo cũng thành công.
Họ có thể gặp khó khăn trong việc hiểu hoặc đáp ứng các nghĩa vụ của mình, nhưng kỳ vọng của họ là, trong bắt kỳ tranh chấp nào, sự tin tưởng và hợp tác sẽ chiếm wu thể. (4) Nhóm ủng hộ: Thái độ ở đây là sự sẵn sảng làm điều đúng đắn. Có một cam kết có ý thức để hỗ trợ hệ thống v: p nhận và quản lý hiệu quả các yêu cầu của hệ thống. Có sự chấp nhận về tính hợp pháp của vai trò của công chức thuế và tin ring họ về cơ bản là đáng tin cậy.
“Tương ứng với 4 nhóm NNT này là 4 nguyên tắc xử lý khác nhau của CỌT. thể là: ~ Nếu hành vi của NNT là “sẵn sảng tuân thủ” thì nguyên tắc xử lý của CQT là “tao điều kiện thuận lợi nhất” đề NNT tuân thủ.