Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng cháy nổ tại các đô thị lớn tại Việt Nam luôn tiềm ẩn những nguy cơ khốc liệt, đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người và an ninh kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự và an toàn xã hội, chỉ tính riêng trong 10 tháng đầu năm 2013, trên toàn quốc đã xảy ra 1.617 vụ cháy, cướp đi sinh mạng của 60 người, làm 154 người bị thương và thiêu rụi khối tài sản trị giá 1.222,39 tỷ đồng. Đứng trước áp lực khốc liệt đó, năng lực phản ứng và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy (PCCC) đóng vai trò sống còn. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về khía cạnh tâm lý học lao động của lực lượng đặc thù này tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Phượng dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trịnh Thị Linh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Thực trạng và mức độ tự ý thức nghề nghiệp của cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát PCCC Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc đo lường, phân tích 3 thành tố cấu thành tâm lý nghề nghiệp: tự ý thức về kỷ luật tổ chức, tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và quan hệ đồng nghiệp, tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp; đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa các biến số chức vụ và thâm niên công tác. Khảo sát thực địa được triển khai toàn diện tại Sở Cảnh sát PCCC thành phố Hà Nội, Phòng Cảnh sát PCCC huyện Thanh Trì và Phòng Cảnh sát PCCC quận Thanh Xuân trên cỡ mẫu 140 cán bộ, chiến sỹ. Đề tài cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn nhằm giảm tỷ lệ 18,6% chiến sỹ có mức độ tự ý thức nghề nghiệp thấp, nâng cao hiệu quả tác chiến an toàn tại Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tâm lý học Mác-xít kết hợp các lý thuyết hiện đại về ý thức và hoạt động nghề nghiệp. Trọng tâm lý thuyết kế thừa mô hình cấu trúc tự ý thức đa tầng của Xpirkip (1972) và Xtolin (1985), xem tự ý thức là sự tự nhận thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi của cá nhân trong hoạt động xã hội. Đề tài đồng thời ứng dụng lý thuyết trí tuệ cảm xúc của Daniel Goleman (2004) nhằm làm rõ khả năng nhận biết, chế ngự xúc cảm và giữ vững tâm lý bình tĩnh trong điều kiện nguy hiểm cận kề.

Mô hình cấu trúc 6 thành tố tự ý thức nghề nghiệp của Phạm Thành Nghị (1989) được kế thừa và tinh gọn, điều chỉnh phù hợp với tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang nhân dân. Hệ thống khái niệm công cụ cốt lõi được chuẩn hóa gồm: tự ý thức bản ngã, nghề nghiệp chuyên môn, tự ý thức nghề nghiệp và đạo đức chiến sỹ công an nhân dân. Nghiên cứu căn cứ chặt chẽ trên khung pháp lý của Luật Phòng cháy và chữa cháy số 27/2001/QH10 (đặc biệt là Điều 47 quy định về tính chính quy, tinh nhuệ của lực lượng và Điều 48 quy định về chức năng, nhiệm vụ), kết hợp Điều lệnh chiến đấu của Bộ Công an để lượng hóa thang đo tâm lý từ 48 đến 240 điểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định lượng và định tính, lấy định lượng làm phương pháp chủ đạo trên cỡ mẫu 140 khách thể, phân tầng thành 2 nhóm đồng đều: 70 cán bộ chính quy được đào tạo bài bản dài hạn trong hệ thống các trường Công an nhân dân và 70 chiến sỹ nghĩa vụ phục vụ có thời hạn (được tập huấn nghiệp vụ 3 tháng). Phương pháp chọn mẫu phân tầng thuận tiện tại 3 đơn vị trực chiến bảo đảm tính đại diện cao về cơ cấu độ tuổi, cấp bậc và thâm niên công tác.

Công cụ thu thập dữ liệu chính là bảng hỏi khảo sát Likert 5 mức độ gồm 48 biến quan sát. Độ chuẩn xác của công cụ được hoàn thiện thông qua bước lấy ý kiến 21 chuyên gia (gồm 1 giảng viên tâm lý học, 10 cán bộ chỉ huy và 10 chiến sỹ thực chiến), phỏng vấn sâu 6 trường hợp (3 cán bộ, 3 chiến sỹ) và phân tích sâu chân dung tâm lý của 2 trường hợp điển hình.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0. Nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA để kiểm định cấu trúc dữ liệu, sắp xếp các biến quan sát vào 3 nhân tố tối ưu thay vì 4 nhân tố giả định ban đầu. Kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha đạt hệ số toàn thang đo là 0,67 (trong đó thành tố hành vi và quan hệ đồng nghiệp đạt 0,79; đạo đức nghề nghiệp đạt 0,64; kỷ luật tổ chức đạt 0,57). Các kỹ thuật thống kê mô tả (Mean, SD) và thống kê suy luận (Independent Samples T-test, ANOVA một chiều) được áp dụng nhằm định lượng hóa chính xác các chiều cạnh tâm lý trừu tượng. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục qua 4 giai đoạn từ tháng 1/2013 đến tháng 3/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê trên 140 khách thể cho thấy bức tranh phân hóa rõ rệt về mức độ tự ý thức nghề nghiệp của lực lượng Cảnh sát PCCC Hà Nội:

  • Mức độ tự ý thức nghề nghiệp tổng quát: Chiếm ưu thế tuyệt đối là mức độ trung bình với tỷ lệ 65,7% (tương ứng khoảng điểm từ 66,4 đến 83,7 điểm). Nhóm đạt mức độ tự ý thức cao trên 83,7 điểm chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 15,7%, trong khi nhóm ở mức độ thấp dưới 66,4 điểm chiếm tới 18,6%.
  • Mức độ nhận thức giữa các thành tố: Thành tố tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và mối quan hệ với đồng nghiệp đạt điểm trung bình cao nhất và có độ tương quan mạnh nhất (Cronbach's Alpha = 0,79). Tiếp theo là tự ý thức về kỷ luật tổ chức và xếp cuối cùng là tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp.
  • Mâu thuẫn giữa lý tưởng và tâm lý an toàn thực tế: Có tới 71,4% cán bộ, chiến sỹ được khảo sát thừa nhận khi trực tiếp làm nhiệm vụ, mối quan tâm hàng đầu của họ trước hết là an toàn của bản thân. Đây là chỉ số phản ánh tính chất khốc liệt khi đối mặt với rủi ro chấn thương thực tế.
  • Ý thức trách nhiệm quy trình tác chiến: 62,1% khách thể hoàn toàn đồng ý và 25,7% đồng ý một phần (tổng tỷ lệ tích cực đạt 87,8%) về vai trò phối hợp hiệp đồng tác chiến giữa các bộ phận; 83,6% khẳng định ý nghĩa sống còn của việc lập hồ sơ vụ cháy; 74,3% (gồm 56,4% hoàn toàn không đồng ý và 17,9% không đồng ý một phần) phản đối quan điểm thụ động chỉ bảo vệ hiện trường khi có lệnh phân công.

Thảo luận kết quả

Thực trạng 65,7% quân số đạt mức tự ý thức trung bình và 18,6% ở mức thấp xuất phát từ các rào cản đào tạo và cơ cấu tuổi nghề. Nhóm chiến sỹ nghĩa vụ chiếm tới 50% mẫu nghiên cứu chỉ trải qua khóa huấn luyện ngắn hạn 3 tháng, dẫn tới sự thiếu hụt độ sâu về tư duy tác chiến dài hạn và tính cam kết gắn bó nghề nghiệp. Hơn nữa, đại đa số cán bộ, chiến sỹ trong mẫu có tuổi đời trẻ dưới 30 tuổi và thời gian công tác dưới 5 năm, chưa tích lũy đủ vốn kinh nghiệm đối ứng với các biến cố cháy nổ phức tạp.

Tỷ lệ 71,4% chiến sỹ ưu tiên an toàn bản thân giải thích rõ nét câu nói của một chỉ huy tiểu đội chữa cháy trong quá trình phỏng vấn sâu: hầu như mỗi lần có cháy là có người bị thương. Nỗi sợ sinh tồn là phản ứng tâm lý tự nhiên khi trang thiết bị bảo hộ còn hạn chế.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ 3 phân khúc nhận thức (65,7% - 18,6% - 15,7%), kết hợp biểu đồ cột phân nhóm so sánh giá trị trung bình giữa nhóm cán bộ chính quy và nhóm chiến sỹ nghĩa vụ trên 3 thành tố tâm lý. Kết quả này củng cố luận điểm của Daniel Goleman về việc kiểm soát cảm xúc trong môi trường nguy hiểm và khẳng định vai trò của quy chế tự giác nội tại hơn là chế tài áp đặt hành chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực tự ý thức nghề nghiệp cho lực lượng Cảnh sát PCCC:

  • Đổi mới và kéo dài chương trình huấn luyện tâm lý chiến đấu: Nâng thời lượng đào tạo nghiệp vụ cho chiến sỹ nghĩa vụ từ 3 tháng lên tối thiểu 6 tháng, tích hợp các bài tập mô phỏng áp lực cháy nổ thực tế ảo nhằm giải tỏa nỗi sợ nguy hiểm. Mục tiêu giảm tỷ lệ nhận thức mức thấp từ 18,6% hiện tại xuống dưới 5% trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới do Cục Cảnh sát PCCC và Cứu nạn cứu hộ chủ trì thực hiện.
  • Chuẩn hóa quy trình đánh giá tâm lý và kỹ năng định kỳ: Ban Chỉ huy các Phòng Cảnh sát PCCC quận, huyện tổ chức sát hạch định kỳ 6 tháng một lần về nhận thức quy trình và kỹ năng phối hợp hiệp đồng tác chiến. Thiết lập chỉ tiêu 95% cán bộ, chiến sỹ đạt chuẩn tự ý thức kỷ luật và hành vi tác chiến hiện trường trước khi tham gia cứu hỏa chính thức.
  • Hiện đại hóa trang thiết bị bảo hộ và chính sách an sinh: Bộ Công an cùng Sở Cảnh sát PCCC thành phố Hà Nội cần đầu tư ngân sách trang bị 100% quân trang, thiết bị bảo hộ đạt tiêu chuẩn quốc tế chống cháy chịu nhiệt cao, giúp giải tỏa rào cản tâm lý an toàn của 71,4% cán bộ chiến sỹ, hoàn thành lộ trình nâng cấp trong giai đoạn 2015-2020.
  • Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng và văn hóa nghề nghiệp: Phòng Công tác Chính trị duy trì các buổi sinh hoạt chuyên đề hàng quý, ứng dụng phương pháp phân tích chân dung tâm lý và giải quyết tình huống thực tế để bồi dưỡng lòng yêu nghề, giữ vững 100% ý thức chấp hành điều lệnh và tinh thần phụng sự nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học và Xã hội học: Tham khảo khung lý thuyết tự ý thức nghề nghiệp đặc thù, bảng hỏi 48 biến và quy trình phân tích nhân tố EFA trên mẫu 140 khách thể để ứng dụng vào các đề tài nghiên cứu tâm lý học quân sự, công an và lao động rủi ro cao.
  • Ban Giám hiệu và giảng viên các trường Công an nhân dân, Đại học PCCC: Sử dụng dữ liệu thực chứng về tỷ lệ 65,7% nhận thức mức trung bình và các khoảng trống tâm lý của chiến sỹ nghĩa vụ làm căn cứ biên soạn lại giáo trình, bổ sung học phần tâm lý học cứu nạn cứu hộ.
  • Chỉ huy các đơn vị Cảnh sát PCCC và Cứu nạn cứu hộ: Ứng dụng bộ chỉ số tự ý thức về hành vi, kỷ luật và đạo đức để đánh giá nhân sự, phân công vị trí tác chiến phù hợp với năng lực tâm lý của từng cá nhân và xây dựng kế hoạch quản trị rủi ro nội bộ cho 100% quân số đơn vị.
  • Các chuyên gia hoạch định chính sách an toàn lao động và chế độ bảo hiểm: Khai thác số liệu về rủi ro nghề nghiệp và tâm lý bảo toàn sinh mạng để đề xuất các gói chính sách bồi dưỡng, trang cấp phương tiện và chế độ phụ cấp độc hại thỏa đáng cho lực lượng tuyến đầu.

Câu hỏi thường gặp

  • Tự ý thức nghề nghiệp của Cảnh sát PCCC gồm những thành tố tâm lý nào? Căn cứ kết quả phân tích nhân tố EFA trên 140 cán bộ chiến sỹ, tự ý thức nghề nghiệp gồm 3 thành tố chính: tự ý thức về hành vi nghề nghiệp và quan hệ đồng nghiệp (hệ số tin cậy 0,79), tự ý thức về kỷ luật tổ chức (hệ số 0,57) và tự ý thức về đạo đức nghề nghiệp (hệ số 0,64).

  • Tại sao có đến 65,7% cán bộ, chiến sỹ có mức độ tự ý thức nghề nghiệp ở mức trung bình? Nguyên nhân chủ yếu do 50% mẫu khảo sát là chiến sỹ nghĩa vụ chỉ được tập huấn nghiệp vụ ngắn hạn 3 tháng, kết hợp cơ cấu tuổi đời trẻ dưới 30 tuổi và thời gian công tác dưới 5 năm chiếm đa số nên kinh nghiệm thực tế và độ gắn bó nghề nghiệp chưa sâu sắc.

  • Việc 71,4% chiến sỹ quan tâm trước hết tới an toàn bản thân phản ánh điều gì? Số liệu 71,4% phản ánh tâm lý sinh tồn hoàn toàn thực tế khi chiến đấu trong môi trường nguy hiểm tính mạng cao, nơi nguy cơ thương tật luôn rình rập, đồng thời cho thấy trang thiết bị bảo hộ cá nhân tại thời điểm nghiên cứu chưa thực sự tạo được sự an tâm tuyệt đối.

  • Thang đo nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và xử lý bằng công cụ nào? Đề tài khảo sát 140 khách thể tại Hà Nội bằng bảng hỏi Likert 5 mức độ với 48 biến quan sát, lấy ý kiến 21 chuyên gia, xử lý định lượng trên phần mềm SPSS phiên bản 13.0 qua các phép kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, T-test và ANOVA.

  • Sự khác biệt về tự ý thức nghề nghiệp giữa cán bộ và chiến sỹ thể hiện thế nào? Nhóm cán bộ được đào tạo chính quy dài hạn đạt điểm số tự ý thức cao hơn rõ rệt so với nhóm chiến sỹ nghĩa vụ ngắn hạn, đặc biệt là ở tính chủ động bảo vệ hiện trường (74,3% phản đối sự thụ động) và nhận thức sâu sắc về nghiệp vụ lập hồ sơ (83,6%).

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công cấu trúc tự ý thức nghề nghiệp của lực lượng Cảnh sát PCCC Hà Nội trên cỡ mẫu 140 khách thể thông qua 3 thành tố tâm lý cốt lõi.
  • Thực trạng chỉ ra 65,7% quân số đạt mức tự ý thức trung bình, 18,6% ở mức thấp và chỉ 15,7% đạt mức cao, phản ánh nhu cầu cấp bách phải đổi mới công tác huấn luyện.
  • Phát hiện tâm lý thực chiến cho thấy 71,4% lo ngại an toàn bản thân nhưng 87,8% vẫn giữ vững ý thức hiệp đồng tác chiến và 83,6% nhận thức đúng về nghiệp vụ sau đám cháy.
  • Đóng góp quan trọng của công trình là đề xuất hệ thống giải pháp nâng thời lượng đào tạo từ 3 tháng lên 6 tháng và trang bị bảo hộ đạt chuẩn quốc tế trong lộ trình đến năm 2020.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chỉ huy đơn vị cần khẩn trương khai thác dữ liệu luận văn để chuẩn hóa quy trình đánh giá tâm lý định kỳ, nâng cao hiệu quả tác chiến bảo vệ Thủ đô.