Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vẻ chất lượng đội ngũ căn bộ, công chức cấp huyện Cương 2: Thực trạng chit lượng đội ngũ cân bộ, công chức cắp huyện tại huyện Phú Lương, tinh Thái Nguyên Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ can bộ, công chức tại cắp huyện tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHAT LƯỢNG DOL NGU CÁN BO, CÔNG CHỨC CAP HUYE! 1-1 Cơ sử lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ep huyện 11.1 Khái niệm, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện 1.1 Khái niệm cần bộ Khái niệm “cin bộ" trước đây thường được sử dụng bao hàm một diện rất rộng về nhân sự thuộc khu vực nhà nước và các tổ chức chính tr, các tổ chức chính trị - xã hội. “Thuật ngữ khi đó thường ding là * nhị ‘Ong nhân viên chức” bao quát tit cả những. người làm công hướng lương từ ngân sách nhà nước, kể cả những người ding đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ không phân biệt ai là cán bộ, công chức, viên chức. 'Cùng với xu hướng hội nhập và toàn câu hóa vẻ kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
sự tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tắc vé nhiều mặt với các thủ có chọn lọc tỉnh hoa văn hóa nhân loại; cùng với công cuộc cát cách hành chính hiện nay dang đạt ra nhu cầu chuyên hi hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày cảng rõ nét, đôi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan. Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể “Cn bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỷ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, các tổ chức chính tr - xã hội ở Trung ương, ở tinh, huyện trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, huyện trực thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước I8] “Căn bộ xã, phường, thị tắn (san đây gọi chung là ấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thứ, Pho Bí thư Đăng ủy, người đứng đầu tổ chức chín te xã hội công chúc cấp xã là công dân Việt Nam được tuyễn dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sich nhà nước "|8] Như vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã được quy định rõ ràng, cụ thể, xác định rõ nội ham, đó là những người giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Việt Nam từ Trung ương đến cấp huyện, quận và tương đương. Tay góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũ cán bộ thành các nhóm sau X<ét về loại hình có thé phân thành: Cán bộ Đảng. , cán bộ Nhà nước, cần bộ kinh tế và quản lý kinh 8; cán bộ khoa học, kỹ thuật ‘Theo tính chất và chức năng nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chính khách, nhóm lãnh đạo quản lý; nhóm chuyên gia và nhóm công chức, viên chức.
‘Theo cắp quản lý phân ra: Cán bộ cấp trung wong; cán bộ cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; cần bộ cắp huyện. thị, thành phổ thuộc tỉnh; cán bộ cấp xã, phường, thị trấn.2 Khái niệm công chức Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành quy chế công chức. Theo quy chế này, công chức được hi là những công dân Việt Nam được inh quyén tuyén để giữ một chức vụ thường xuyên trong cée cơ quan của Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Như vậy, công chức.
chủ yéu là những người làm việc trong bộ máy nhà nước ở trung ương. Đội ngữ cần bộ đoàn thé, những người làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương không phải tất cả dbu là công chức, thuộc phạm vi điều chỉnh của sắc nh. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh nên quy chế công chức theo sắc lệnh này không được thực hiện đầy đủ và trong thực tế thời gian này người ta thường dùng khái niệm cán bộ để chỉ những người làm việc trong biên chế nhà nước nói chung [4] Sau suốt một thời gian đài, khái niệm công chức it được sử đụng, thay vio đó là khái niệm cần bộ, công nhân viên chức Nhà nước; không phân biệt công chức, viên chức với công nhân. Thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiến trình.
cải cách nén hành chính Nhà nước và đôi hoi chuẩn hỏa đội ngữ cần bộ, công chức Nhà nước, thuật ngữ công chức lại được sử dụng ở lại. Tại Nghị định số 169/IIĐBT 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng: tiếp dé là Nghị định số 95/1998/NĐ.CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cần bộ, công chức trong các cơ quan [Nha nước; khái niệm công chức được đề cập một cách rõ ring, cu thé: xong vẫn chưa phân biệt công chức hành chính với công chức sự nghiệp. Qua nhiề sửa đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát trí của kinh & xã hội và hội nhập quốc tế, Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định rõ: Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào. vụ, chức danh trong cơ quan của Đáng Cộng sin Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là juan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đăng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi tit là đơn vị sự nghiệp công lập, tong biên chế và hưởng lương ừ ngân sách Nhà nước; đổi với công chức trong bộ máy lành đạo, quản If của đơn vị sự nghiệp công lập thi lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật S] Từ những cách quan niệm vẻ công chức nêu trên, chúng ta có thé hiểu khái niệm công chức nhue sau: Công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân, được tuyển dụng và bỗ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung wong hay địa phương, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngâm súch Nhà nước; có nghĩa vụ, bản phận phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo quy định của pháp luật, và chị sự diéu chỉnh của luật công chức “rong hoạt động công vụ của Nhà nước, có thé phân loi công chức theo các cách khác nhau.
Theo đặc thù tính chất công việc người ta thường phân công chức thành. bốn loại: công chức lĩnh đạo, công chức chuyên gia, công chức chuyên môn, nghiệp vụ, công chức là n ân viên hành chính. T én, sự phân loại này chỉ có tính chất định tính, nhằm giúp cho việc xác định cơ cấu công chúc trong việc quy hoạch mà chưa rõ trình độ, năng lực của công chức trong từng loại khác nhau, do đó chưa đáp ‘ig được yêu cầu chuẩn hóa công chức. © nước ta hiện nay, phân loại công chức theo ngạch là phổ biến.
Ngạch công chức là một khái niệm chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của công chức, Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn riêng, bao gồm 5 loại: 'Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên. Cong chức ngạch chuyên viên chỉnh và tương đương. ‘Cong chức ngạch chuyên viên va tương đương. ‘Cong chức ngạch cán sự và tương đương.
Cong chức ngạch nhân viên và tương đương.3 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện ‘Chi tịch Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ, công chức là mắt xích quan trọng của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân. Họ là lực lượng lao động nòng cốt có vai trd cực. kỹ quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của Nhà nước. Nhiệm vụ của họ là thực th công vụ, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực Nhà nước, Đồng thời chính họ đồng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mưu, để xuất, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nước, Qué trình đổi mới đắt nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, có sự tham gia của nhiều chủ thể x8 hội, rong d có nn công vụ.
NÊn công vụ đồng vai rò chủ yếu tong vige tổ chức thục hiện các Nghị quyết của Đảng bằng việ thể chế hóa các Nghị quyết cia Đăng thành pháp luật và thực thi trong xã hội, qua đó giúp Đăng đánh giá và điều chỉnh các chủ trương, đường lỗi cho phù hợp với thực tiễn, Ngoài ra, là một bộ phận quan tong của nguồn nhân lực trong nén công vụ, những cần bộ, công chức, đăng viên,. đã trực tiếp tham gia đóng góp vào quá winh xây dụng các chủ trương, chính sách của Đảng qua việc xây dựng dự thảo, đề án, hoặc góp ý kiến, chỉnh sửa dự thảo. Là người làm việc trong các cơ quan hành chính của Ủy ban nhân dân và các phòng ban ở huyện nên cán bộ, công chức hành chính có vị trí quan trọng, là cầu nối giữa Bang, Chính phủ vì Cấn bộ, công chức là nhân tổ chủ yếu, hàng đầu và là nhân tổ “động” nhất cia tổ chức, song đến lượt mình, cán bộ, công chức lạ chịu sự chỉ phối, rang buộc của tổ chúc. Tổ chức buộc cá bộ, công chức phải hành động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định.
Tổ chức bộ máy khoa học, hợp lý sẽ nhân sức mạnh của cán bộ, công chức lên gap đôi. Cần bộ, công chức chỉ có sức mạnh khi gi với tổ chức và nhân dân.