Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO Y ĐỨC NGƯỜI BÁC SĨ QUÂN Y THEO TƯ TƯỞNG Y ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1. Những công trình nghiên cứu về y đức Ngay từ thời kỳ cổ đại, Hyppocrates - người được mệnh danh là ông Tổ của ngành Y phương Tây, đã để lại cho hậu thế những yêu cầu cao về phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc thông qua những lời răn dạy của mình, sau này các môn sinh của ông đã đúc kết thành “Lời thề Hyppocrates”. Ngày nay, sinh viên ngành Y ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam trước khi hành nghề đều trang trọng tuyên thệ lời thề thiêng liêng ấy.
Từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX những tiêu cực trong ngành Y, những thí nghiệm man rợ trên cơ thể người cùng những sai lầm trong việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng dược phẩm được đưa ra ánh sáng thì những vấn đề về đạo đức y học mới được đặt ra và nghiên cứu một cách nghiêm túc. Trên nền tảng những tư tưởng y đức hết sức cơ bản của Hyppocrates, các tác giả phương Tây đã có những nghiên cứu, phân tích cũng như tranh luận về các vấn đề mới liên quan đến đạo đức người thầy thuốc. Một số quan điểm về y đức đã trở thành tiền đề cho những tuyên ngôn về y đức, quyền con người của Hiệp hội Y khoa Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới. Những công trình tiêu biểu có thể kể đến là: Cuốn sách “Medical Ethics; or, a Code of Institutes and Precepts, Adapted to the Professional Conduct of Physicians and Surgeons” (Y đức hay là bộ quy tắc về những điều cơ bản và luân lý nhằm điều chỉnh sự ứng xử mang tính chuyên nghiệp của thầy thuốc và bác sĩ phẫu thuật) của tác giả Thomas Percival [176] được ấn hành năm 1803 đã khẳng định quyền hạn và tính độc lập của người thầy thuốc trong hoạt động nghề nghiệp.
Người thầy thuốc phải nêu cao tinh thần trách nhiệm cũng như giữ gìn danh dự cá nhân trong quá trình hành nghề. Trong mối quan hệ với bệnh nhân, Thomas Percival yêu cầu người thầy thuốc phải có thái độ ôn hòa trong lời nói và hành vi và đặc biệt “phải có nghĩa vụ truyền niềm hy vọng, thể hiện sự đồng cảm đối 7 với người bệnh” [176, tr. Mặc dù mới chỉ góp phần làm sáng rõ những tư tưởng y đức của Hyppocrates nhưng quan điểm của Thomas Percival có ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển các nguyên lý y đức sau này. Kế thừa tư tưởng của Thomas Percival, Tom L.
Beauchamp và James F.Childress đã nâng tầm lý luận cho nghiên cứu đạo đức trong y học thông qua việc nghiên cứu các nguyên lý y đức trong công trình “Principle of biomedical ethics” (Nguyên lý đạo đức y sinh học) được xuất bản lần đầu năm 1979 và tái bản lần thứ 7 nằm 2012 [172]. Các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống bốn nguyên lý y đức theo thứ tự tôn trọng quyền tự chủ, lòng nhân ái, không làm việc có hại - không ác ý, công bằng. Trong đó, với quan điểm coi người bệnh là trung tâm nên nguyên lý tôn trọng quyền tự chủ của người bệnh được các tác giả nghiên cứu khá sâu sắc. Sau này trong một số cuốn sách như “Doctor-Patient communication” (Giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân) của David Pendleton và John Hasler ấn hành năm 1983 [175], “Principles of health care ethics” (Các nguyên lý đạo đức trong chăm sóc sức khỏe) được ấn hành năm 1993 của tác giả Raanan Gillon [174] và “Clinical method- A general practice approach” (Phương pháp lâm sàng – một cách tiếp cận thực hành chung) được ấn hành năm 1999 của tác giả Robin C.
Fraser [173] đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề giao tiếp giữa người thầy thuốc và bệnh nhân trên cơ sở bốn nguyên lý y đức. Fraser nhấn mạnh: “Quan trọng nhất đó là mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân cần dựa trên sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và đồng cảm. Đồng cảm có nghĩa là bác sĩ đặt mình vào địa vị của người bệnh để hiểu cảm giác của họ” [173, tr. Sau cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, trong quá trình xây dựng CNXH, các học giả Xô Viết đã quan tâm nghiên cứu những vấn đề về y đức.
Từ việc phân biệt nền y học XHCN và nền y học TBCN, các học giả đưa ra những phẩm chất đạo đức cần có của người thầy thuốc XHCN trong mối quan hệ với bệnh nhân, đồng nghiệp, nghề nghiệp và với xã hội, ít đi sâu nghiên cứu những nguyên lý y đức như các học giả phương Tây. Những công trình tiêu biểu có thể kể đến là: “Những vấn đề cơ bản của đạo đức y học” của D. Pixarrép do Phạm Thúy Liên dịch được xuất bản tại Việt Nam năm 1972 [137]. Cuốn sách chứa nhiều nội 8 dung phong phú, liên quan tới lĩnh vực đạo đức y học.
Ngoài việc khái lược về lịch sử đạo đức y học trên thế giới nói chung và ở nước Nga nói riêng, tác giả đã bàn nhiều về phẩm chất đạo đức cần có của người thầy thuốc trong mối quan hệ với bệnh nhân, đồng nghiệp, nghề nghiệp và với xã hội. Đặc biệt, tác giả đã đề cập tới vấn đề tư duy của thầy thuốc trong hoạt động nghề nghiệp và nhấn mạnh “Chẩn đoán bệnh là một quá trình phức tạp nhất của hoạt động nhận thức…, đó là quá trình tư duy biện chứng…” [137, tr. Những đức tính cần có của người thầy thuốc trong các mối quan hệ nghề nghiệp tiếp tục được hai tác giả M. Pogibko đề cập đến trong công trình “Đạo đức y học (những vấn đề đạo đức của người thầy thuốc)” do Nguyễn Trinh Cơ dịch và xuất bản tại Việt Nam năm 1986 [146].
Trong đó, các tác giả cho rằng, đối với bệnh nhân, người thầy thuốc phải trở thành “người cha đối với người bệnh, người bảo vệ đối với người đang bình phục và là người bạn đối với người khỏe mạnh” [146, tr.32]; đối với đồng nghiệp, người thầy thuốc phải tận tình giúp đỡ; đối với xã hội, người thầy thuốc phải hoạt động không vụ lợi; đối với nghề nghiệp, người thầy thuốc phải yêu nghề, hăng say học tập. Ở Việt Nam, vấn đề y đức đã được đặt ra từ rất sớm, thể hiện trong tư tưởng y đức của Đại danh y, “tiên thánh của ngành thuốc nam”- Thiền sư Tuệ Tĩnh (1330 - 1400); của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791), người đã luôn coi nghề y là một nghề cao quý, là “nhân thuật”, coi việc bảo vệ sinh mệnh con người là nhiệm vụ hàng đầu. Ông thường răn dạy học trò: “Làm thuốc mà không lấy hằng tâm giúp đỡ người, không có ý nghĩ sâu sắc cứu sống người, chỉ chăm chăm về kể lợi tính công, lấy của hại người, thì khác gì bọn… giặc cướp…” [157, tr. Nhưng phải tới khi mặt trái KTTT tác động mạnh mẽ vào mọi mặt đời sống xã hội trong đó có ngành Y và đạo đức người thầy thuốc thì vấn đề y đức mới được nhiều tác giả quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, đề xuất giải pháp nâng cao y đức người thầy thuốc trong nền KTTT và hội nhập quốc tế.
Đề cập tới vấn đề này có một số cuốn sách tiêu biểu là: 9 Trong công trình “Y đức và đức sinh học, nguồn gốc và sự phát triển” ấn hành năm 1999 [84], tác giả Ngô Gia Hy đã khá công phu khi tìm hiểu toàn bộ tư tưởng về đạo đức người thầy thuốc từ thời kỳ cổ đại cho tới nay, ở cả phương Đông và phương Tây. Dựa trên hệ thống tư tưởng y đức trong lịch sử, tác giả đã đưa ra những quan điểm của mình về chuẩn mực y đức người thầy thuốc trong mối quan hệ với nghề nghiệp, khoa học, bệnh nhân, thầy dạy học, học trò, đồng nghiệp, tập thể và xã hội. Trong đó, tác giả nhấn mạnh: “Trước mắt người thầy thuốc chỉ có bệnh nhân, bất kể giàu nghèo” [84, tr. Nhấn mạnh tới các vấn đề lý luận của đạo đức y học, trong cuốn sách “Đại cương đạo đức y học” ấn hành năm 2010 [44], nhóm tác giả trường Đại học Y Hà Nội dựa trên việc khái lược lịch sử đạo đức y học chỉ ra khái niệm, cấu trúc của đạo đức y học, đặc trưng bản chất của nghề y.
Từ đó, các tác giả khẳng định: “Người làm nghề y không những cần có tài năng, mà đặc biệt cần tấm lòng nhân ái, thấu hiểu tình người để có thể cảm thông, chia sẻ, làm vơi đi nỗi đau khổ của người bệnh” [44, tr. Đây là những tư liệu tham khảo có giá trị nhất định đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về y đức. Bàn về đạo đức người thầy thuốc XHCN, trong cuốn sách “Tâm lý học y học - y đức” ấn hành năm 2010 [128], tác giả Nguyễn Huỳnh Ngọc cùng các cộng sự đã đưa ra khái niệm y đức, y đạo, chỉ ra bản chất đạo đức người thầy thuốc XHCN, đó là: phải có nhân sinh quan cách mạng vững vàng, giản dị, khiêm tốn, chính trực…, có mối quan hệ nhân đạo với bệnh nhân. Từ đó, các tác giả chỉ ra những yêu cầu đạo đức của người cán bộ y tế là: phải có kiến thức toàn diện; sẵn sàng nhận nhiệm vụ; có tinh thần tập thể, đoàn kết; quan tâm đến hạnh phúc của người bệnh; giao tiếp tốt với bệnh nhân.
Các tác giả khẳng định, nếu người thầy thuốc XHCN giao tiếp tốt với bệnh nhân thì sẽ “góp phần chính yếu trong việc quyết định sự thành bại của công tác chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân” [128, tr. Đây là vấn đề giúp tác giả luận án có những định hướng nhất định trong quá trình nghiên cứu về nâng cao y đức người bác sĩ quân y Việt Nam hiện nay. 10 Bước vào xây dựng nền KTTT đã có không ít bài viết liên quan đến y đức, chẳng hạn: Bài “Đổi mới nhận thức và giáo dục y đức phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đăng trên tạp chí Cộng sản năm 2014 [81], tác giả Phạm Mạnh Hùng dựa trên việc so sánh động lực của người thầy thuốc trước và sau thời kỳ Đổi mới đã nhận định: “Nếu như thời bao cấp, người thầy thuốc chỉ có 2 động lực chính (cứu chữa người bệnh, phục vụ CSSK của nhân dân) và động lực khoa học, thì nay nó còn gắn liền với lợi ích chính đáng trong mưu sinh và làm giàu” [81, tr.