đặt vấn đề PN một cách tách biệt. Trong các chương trình, dự án, ngay từ đầu đã đặt ra mục tiêu và biện pháp đáp ứng các yêu cầu của cả giới nam và giới nữ. Rõ ràng là chỉ có thể nói đến sự phát triển với nghĩa sâu rộng nhất của từ này nếu PN có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và hoàn toàn bình đẳng với nam giới. Quan điểm này đưa lại cách nhìn nhận rằng không thể nghiên cứu PN một cách tách biệt mà cần phải đặt trong mối quan hệ giới khi đề ra các biện pháp để giúp họ trong quá trình phát triển.
Khi xem xét bất kì vấn đề gì trong các chương trình, dự án, chính sách phát triển thì không xem xét một cách chung chung mà xem xét các chương trình, chính sách phát triển đã tác động vào mối quan hệ giữa nữ và nam giới, như xem xét một cách cụ thể là nam giới và phụ nữ có địa vị như thế nào, có quyền gì, nam và nữ làm gì, làm như thế nào, trong điều kiện nào, được đánh giá và hưởng thụ ra sao? Để làm rõ hơn cách tiếp cận “giới và phát triển” cần đi sâu vào hai nội dung chính là phân tích giới (hay còn gọi là chẩn đoán giới) và xây dựng chương trình hành động đáp ứng giới ( ở chu trình chương trình dự án, chu trình chính sách, đặt kế hoạch phát triển ) a) Phân tích giới: Phân tích giới cần tìm hiểu và trả lời các câu hỏi sau: 23 - Nam và nữ, ai làm gì? ở đâu trong phạm vi vĩ mô (tổ chức xã hội) và vi mô (hộ gia đình)? ở đây liên quan đến thuật ngữ” vai trò giới”, đó là một tập hợp những hành vị, thái độ, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của một nam hay một nữ. Để khám phá mối tương quan giữa nam và nữ phương pháp tiếp cận giới và phát triển thường phân tích 3 hoặc 4 vai trò giới: lao động sản xuất, sinh sản và nuôi dưỡng, vai trò cộng đồng, hoặc lãnh đạo. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, PN và nam giới đều thực hiện cả 3 vai trò trên, nhưng sự thực hiện của he có khác nhau. PN và nam giới đều tham gia vào lao động sản xuất như nhau.
PN tham gia chủ yếu vào thực hiện vai trò sinh sản và nuôi đưỡng, nam giới thực hiện rất hạn chế vai trò này. Đối với vai trò cộng đồng hay lãnh đạo thì phụ nữ thường là người thừa hành, nam giới giữ vai trò lãnh đạo. Trong nghiên cứu này cân phải tìm hiểu xem thực trạng nam và nữ tham gia vào công tác QLGD như thế nào? đã đạt được sự bình đẳng, công bằng giữa 2 giới trong vai trò QLGD chưa? (về mặt định lượng và định tính) - Nam và nữ ai làm việc gì, ở cấp độ nào trong một tổ chức xã hội cụ thể ở đây khái niệm về vai trò giới còn gắn liền với khái niệm phân công lao động theo giới. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: trong vai trò giới truyền thống, nữ thường làm những công việc gắn liên với vai trò sinh sản và nuôi đưỡng, nam thường làm những việc gắn với lao động sản xuất và vai trò lãnh đạo.
So với nữ, nam thường ở cấp độ cao hơn, quan trọng hơn trong cùng một công việc. - Nam và nữ ai có gì? (tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, hưởng thụ lợi ích từ quá trình phát triển ở mức độ nào). PN có quyền tiếp cận, sử đụng và kiểm soát nguồn lực không? Có quyền tham gia phân bổ nguồn lực (tài sản, thời gian, đất đai, kiến thức, luật pháp, quyền ra quyết định. ), mức độ như thế nào?; Họ có được công bằng với giới nam khi phân phối nguồn lực và mức độ ưu tiên? họ sử dụng nguồn lực vào việc gì, ý kiến của họ có được lắng nghe không, mức độ được lắng nghe như thế nào? họ có quyền theo dõi kiểm tra việc sử dụng nguồn lực?.
Lưu ý là không chỉ quan tâm tới việc được tiếp cận mà còn được kiểm soát nguồn lực (được quyền tiếp cận chưa chắc đã được quyền kiểm soát nguồn lực). Khi họ tham gia vào một công việc nào đó, họ có được sử dụng các nguồn lực cần thiết cho hoạt động hay không? Trong đề tài cân nghiên cứu phụ nữ được phân công làm gì ở vai trò quản lý lãnh đạo? nữ cán bộ QLGD được phân công ở cấp độ nào? trưởng hay phó? ở địa 24 phương hay trung ương? Vai trò giới truyền thống (việc nhà) ảnh hưởng đến thời gian và sức lực của nữ cán bộ QLGD như thế nào ? - Nam và nữ có như câu gì? sự đáp ứng nhu câu để họ tham gia bình đẳng. Khi phân tích, tìm hiểu nhu cầu giới, một mặt cần tìm hiểu nhu cầu khác biệt của mỗi giới mà các chính sách, chương trình phát triển phải đáp ứng, mặt khác cần “đánh giá mức độ góp phần vào sự tạo lập bình đẳng giới của các chính sách, chương trình phát triển. Người ta thường phân biệt: * Nhu cầu giới thực tế (trong một số tài liệu sử dụng thuật ngữ nhu cầu thực tiénj 1a unuuy nhú cầu cụ thể, tức thời và thường là thiết yếu đối với cuộc sống hàng ngày của con người, như thực phẩm, nước, nhà ở, tiền, an ninh,.
Biện pháp nhằm đáp ứng các nhu cầu thực tiễn có thể giải quyết được những vấn đẻ bất cập và bất bình đẳng trước mắt nhưng thường chưa làm thay đổi các nguyên nhân sâu xa gây nên bất bình đẳng giới * Lợi ích chiến lược (có tài liệu gọi là lợi ích giới) các lợi ích mang tính đài hạn và khó nhận thấy hơn, liên quan tới các nguyên nhân sâu xa gây nên bất bình đẳng giới. Việc đáp ứng các lợi ích chiến lược sẽ thách thức và làm thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa nam giới và PN. Ví dụ: tháo bỏ các trở ngại về mặt pháp lý, chia sẻ việc nhà, cùng tham gia quyết định trong gia đình. Nhu cầu thực tế hay lợi ích chiến lược nảy sinh và được đáp ứng phụ thuộc vào từng hoàn cảnh của PN và nam giới, tuỳ thuộc vào quan điểm tiếp cận của các nhà lập chính sách hay các chương trình, dự án (Ví dụ: quan điểm tiếp cận của PN trong phát triển thường hay tập trung hơn vào việc đáp ứng nhu cầu thực tế ).
/ - Ngoài ra khi phân tích giới cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến ._ tương quan giới và tìm hiểu những bất bình đẳng đang tồn tại. Đề tài nghiên cứu cân tìm ra những giải pháp hướng tới mục tiêu nâng cao vai trò, vị trí của cán bộ QLGD nit trong bộ máy ra quyết định. Thực chất đó là nghiên cứu vấn đề thực hiện lợi ích chiến lược. Đồng thời cũng cần chú ý phái hiện và tìm những giải pháp đáp ứng cả nhủ cầu thực tế.
Do vậy, muốn xác định được những giải pháp trúng cân phát hiện ra những cản trở đối với việc đáp ứng cả hai loại nhu cầu giới này. b) Xây dựng chương trình hành động đáp ứng giới trong các chương trình đự án, trong quá trình lập chính sách và đặt kế hoạch phát triển. Đối với nội dung này, cần nghiên cứu xem xét trong các chương trình “ Vì sự tiến bộ của PN”ngành giáo dục ở các cấp đã thực hiện được chưa? Hoặc chương trình hành 25 động này cho tương lai đã được xây dựng như thế nào để đáp ứng giới, kể cả đáp ứng nhu cầu giới chiến lược lẫn đáp ứng nhu cầu giới thực tế. Ảnh hưởng các yếu tố văn hóa phương đông: Mọi vấn để xã hội mang tính thời đại, toàn cầu đều được giải quyết theo phương thức tư duy toàn cầu, nhưng biện pháp giải quyết lại mang tính địa phương đảm bảo tính phù hợp với hoàn cảnh thực tế và văn hóa của từng quốc gia.
Do đó, khi xem xét và giải quyết vấn để bình đẳng giới nói chung và trong lĩnh vực tham gia QLGD nói riêng cần phải tính đến đặc điểm văn hóa, bản sắc của dân tộc. Các yếu tố văn ho. „hương đông ảnh hưởng đến cách nhìn nhận vấn đề, tâm lý của người PN cũng như của nam giới như thế nào sẽ được phản ánh trong phần phân tích nguyên nhân của thực trạng. Tiếp cận từ góc độ quản lý và một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan Khi lao động mang tính XH, cần sự phối hợp hoạt động của các cá nhân, cần sự quản lý.
Quản lý: Tự điển Tiếng Việt cho rằng quản lý là tổ chức, điều khiến hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; về cơ bản mọi người đều cho rằng QL chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Xét QL với tư cách là một hành động, QL có thể định nghĩa như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã dé ra. Hoạt động quản lý: Theo định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động QL là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích. Các hoạt động quản lý được thực hiện thông qua chức năng QL.
Chức năng QL là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể QL, nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động QL nhằm thực hiện mục tiêu. Chức năng QL xác định vị trí, mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống QL. Thông thường có 7 chức năng được quan tâm, đó là: - Đự đoán: phán đoán trước toàn bộ quá trình và các hiện tượng mà trong tương lai có thể xảy ra có liên quan đến hệ thống QL, để nhận thức được cơ hội làm cơ sở cho việc phân tích lựa chọn các phương án hành động. - Kế hoạch hoá: Bao gồm các hoạt động xác định mục tiêu, xây dung chương trình hành động (phương pháp, phương tiện) và dự kiến bước đi cụ thể 26 (tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá) trong một thời gian nhất định của một hệ thống QL.
- Tổ chức: Xác định cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hoá; liên kết những bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống, hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất nhằm đạt mục tiêu.