CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Những lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu * Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội Ralph Linton (1983- 1953) được coi là người có công đầu trong việc xác định khái niệm vị thế vai trò. Từ góc độ hành vi luận, vị thế là tập hợp các quyền và trách nhiệm mà người nắm giữ vị thế đó phải thực hiện. Tuy nhiên, khái niệm vị thế chủ yếu nói đến xuất phát điểm của hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó.
Khái niệm vai trò mới nói đến mặt động thái của hành vi: khi một người thực hiện quyền và trách nhiệm của vị thế thì khi đó người này thực hiện vai trò. Nói cách khác, vai trò là hành vi của người nắm giữ vị thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những kỳ vọng của người khác về quyền và trách nhiệm gắn với vị thế. Theo Linton, trong nghiên cứu khoa học có thể tách biệt vị thế và vai trò nhưng trên thực tế vị thế và vai trò gắn liền với nhau đến mức rất khó tách biệt [13, trang 51] Lý thuyết về vị trí- vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi và nghĩa vụ hay kỳ vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó. Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau bởi họ có thể tham gia vào nhiều nhóm xã hội khác nhau.
Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng. Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi, mô hình hành vi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội. Như vậy, vai trò xã hội là “sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó” [20, tr 117]. 16 z Quan điểm lý thuyết vị trí- vai trò trong đề tài này được sử dụng để đánh giá vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH trong trường đại học, từ đó chỉ ra những yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò của nữ cán bộ trong so sánh với nam cán bộ.
Các lý thuyết và trường phái nữ quyền Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, các phong trào nữ quyền ra đời ở nhiều nước phương Tây. Các phong trào này có mục tiêu là xoá bỏ sự thống trị của nhà nước Tư sản với phụ nữ. Do tính đa dạng, phong trào nữ quyền không phải là một khối thuần nhất mặc dù họ có cùng mục đích chung là giải phóng phụ nữ. Nữ quyền là phong trào xã hội của phụ nữ nhằm đấu tranh bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, xoá bỏ chế độ phụ quyền trên phạm vi toàn cầu.
Một số đóng góp cơ bản của thuyết nữ quyền là: 1) Lần đầu tiên, vấn đề “phụ nữ” được đặt ra trong các lĩnh vực công cộng và riêng tư. Theo đó, vấn đề chế độ phụ quyền và quyền lực tuyệt đối của chế độ này cũng được đem ra phân tích và chứng minh rằng nam giới không thể đại diện cho phụ nữ trong xã hội và khoa học. 2) Mục đích của nữ quyền là xây dựng một xã hội nhân đạo, công bằng và văn minh. Xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tương tác giữa hai giới chứ không phải đối lập hoặc phụ quyền thống trị.
Một số đại biểu kinh điển của thuyết nữ quyền: Ann Oakley- nhà nữ quyền người Anh, người đã đưa thuật ngữ giới vào XHH; Simone de Beauvoir- người Pháp, tác giả cuốn “Giới tính thứ hai” đã có những tranh luận với các nhà xã hội học kinh điển về giá trị nhân phẩm và vị trí của phụ nữ với những tư tưởng nhân văn sâu sắc. Tư tưởng của bà đã soi sáng cho các thế hệ sau cả về phương pháp luận lẫn phương pháp nghiên cứu nữ quyền. 17 z Một số thuyết nữ quyền tiêu biểu là thuyết nữ quyền Tự do, nữ quyền cấp tiến, nữ quyền Mác xít, nữ quyền xã hội chủ nghĩa, nữ quyền phân tâm học, nữ quyền hiện sinh, nữ quyền hậu hiện đại… Thuyết nữ quyền Tự do cho rằng mỗi phụ nữ đều có thể tự giải phóng mình với tư cách cá nhân bằng cách bác bỏ các vai trò giới tính truyền thống của mình là phụ thuộc vào nam giới. Cái khác biệt giữa nam giới và phụ nữ là hình dáng cơ thể chứ không phải trí tuệ.
Các nhà nữ quyền Tự do đã thách thức quan niệm phụ quyền truyền thống bằng cách cho rằng phụ nữ cũng có khả năng trí tuệ như nam giới. Theo họ, sự bị trị của phụ nữ nằm trong những ràng buộc về tập quán và pháp lý. Theo luật pháp và phong tục, phụ nữ bị tước đi việc học hành và bị giam hãm trong gia đình. Những ràng buộc này ngăn cản phụ nữ tham gia hoặc thành công trong những nơi được coi là thế giới công cộng.
Xã hội tin tưởng một cách sai lầm rằng, phụ nữ kém năng lực hơn nam giới về trí tuệ của mình và vì vậy trí tuệ của họ luôn bị thấp hơn nam giới. Do chính sách sai lầm này, tiềm năng đích thực của nhiều phụ nữ không được bộc lộ. Muốn thay đổi vai trò của phụ nữ trong xã hội cần phải thông qua cải cách và giáo dục một cách công bằng cho cả nam và nữ. Công bằng giới đòi hỏi phải có cơ hội như nhau và cần xem xét đến từng cá nhân mà không tính đến giới tính của họ theo kiểu định kiến giới.
Các nhà nữ quyền Mac xit cho rằng, bản thân chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân của sự áp bức phụ nữ. Dưới chế độ phong kiến phụ nữ bị giam hãm trong gia đình, không được tham gia vào hoạt động xã hội. Chủ nghĩa tư bản đưa phụ nữ tham gia vào nền sản xuất chung của xã hội nhằm tận dụng nhân công rẻ mạt. Phụ nữ lao động trong các xí nghiệp và bắt đầu tham gia các diễn đàn và được học tập.
Trong xã hội có giai cấp, phụ nữ chịu sự áp bức và không được bình đẳng khi của cải vật chất sản xuất ra bởi một số đông, quyền hành lại nằm trong tay một số ít nam giới đầy quyền lực. Nếu muốn giải phóng phụ nữ, hệ thống tư bản chủ nghĩa phải được thay 18 z thế bằng một hệ thống xã hội, trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi người. Mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc làm, đồng lương, tư liệu sản xuất là của chung, phụ nữ được tự do về kinh tế như nam giới. Chủ nghĩa xã hội đã giải phóng phụ nữ mọi phương diện, đưa phụ nữ ra nền sản xuất xã hội chủ nghĩa [20, tr 152] 1.2 Những khái niệm công cụ * Khái niệm Giới Giới là một thuật ngữ Xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích.
Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân. Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau. Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính giới chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình, xã hội và nền văn hoá của chúng ta.
Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân và nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính thay đổi). Quan hệ này thay đổi thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội. 43] Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. 45] Định kiến giới Định kiến giới là nhận thức, thái độ đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.46] 19 z Định kiến giới tạo nên tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, kìm hãm sự phát triển của phụ nữ làm cho phụ nữ an phận, đồng thời cũng tạo nên áp lực đối với nam giới là trụ cột kiếm tiền chính trong gia đình.
* Khái niệm vai trò Theo J.Fighter, vai trò là sự phối hợp, tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm vụ xã hội. Theo Robertson, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định. Vai trò giới bao gồm: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng. Vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ.
Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên, tuy nhiên có sự khác biệt về tính chất và mức độ. Sự tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi công việc. Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ nữ) thì nam giới không trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ mà thôi. Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ.
* Nữ cán bộ giảng dạy Khái niệm cán bộ giảng dạy được hiểu theo nghĩa là giảng viên. Giảng viên ĐHQGHN là cán bộ thuộc ngạch viên chức giảng dạy đại học, làm việc trong biên chế hoặc theo hợp đồng làm việc của ĐHQGHN [19, tr.2] Như vậy, nữ cán bộ giảng dạy là những người có đặc trưng giới tính là nữ, có trình độ học vấn, chuyên môn và tham gia giảng dạy đại học.